Bài 34: Các hệ thống sông lớn ở nước ta

Thứ sáu , 19/08/2016, 15:56 GMT+7
     

ĐỊA LÍ 8 BÀI 34: GIẢI BÀI TẬP CÁC HỆ THỐNG SÔNG LỚN Ở NƯỚC TA

 

I. TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI

Giải bài tập 1 trang 123 SGK địa lí 8: Hãy nờu dặc điểm của hộ thống sông ngòi ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ (hình dạng, chế dộ nước, một số hệ thống sônq chính).

Trả lời:

 

Hệ thống sông ngòi Bắc Bộ

Hệ thống sông ngòi Trung Bộ

Hệ thống sông ngòi Nam Bộ

Hình

dạng

 Các sông của vùng có  dạng nan quạt, một số  nhánh chảy giữa các  cánh cung núi,  quy tụ  về đỉnh tam giác châu  sông Hồng.

 Sông ngắn và dốc,  phân thành nhiều lưu  vực nhỏ và độc lập.

 Lòng sông rộng và  sâu, ảnh hưởng rất  lớn của thuỷ triều.

 Chế độ  nước

 Thất thường, Mùa lũ  kéo dài 5 tháng và cao  nhất vào tháng 6, lũ tập  trung nhanh  và kéo dài.

 Lũ lên nhanh và đột  ngột, nhất là khi gặp  mưa bão lớn, Mùa lũ tập trung  vào cuối ním từ tháng 9 đến tháng 12.

 Khá điều hoà, mùa lũ từ tháng 7 đến  tháng 11

Một số

sông

chính

 Sông Hồng, sông Lô, sông Thao, sông Đà,...

 Sông Mã, sông Chu, sông Thu Bồn, sông Đà Rằng,...

 Sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu,...

 

Giải bài tập 2 trang 123 SGK địa lí 8: Các thành phố Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà Nđng, cần nơ nằm trôn bờ những sông nào?

Trả lời:

Thành phố Hà Nội nàm trên bờ sông Hồng.

TP Hồ Chí Minh nằm trên bờ sông Sài Gòn.

Đà Nẵng nằm trên bờ sông Thu Bồn.

Cần Thơ nằm trên bờ sông Hậu.

Giải bài tập 3 trang 123 SGK địa lí 8: Nêu cách phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng và đơn vị bằng sông Cửu Long.

Trả lời:

- Cách phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng:

+ Từ xa xưa nhân dân trong vùng đã đắp đê chống lũ.

+ Tích cực trồng rừng ở thượng nguồn hệ thống sõng Hồng và sông Thái Bình.

+ Đắp đập, làm hồ chứa nước phát triển thuỷ điện.

- Cách phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long:

+ Đắp đê quai đế ngăn lũ nhỏ, làm thuỷ lợi đế thoát lũ nhanh hơn.

+ Nhân dân bằng các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước trong những năm qua đã sông chung với lũ và khai thác các nguồn lợi do lũ đem lại.

 

III. THÔNG TIN BỔ SUNG

HỆ THỐNG SÔNG HỒNG

Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất ở Việt Nam. Dòng chính sông Hồng dài 1126km, trong đó phần ở trong nước dài 556km. Diện tích lưu vực sông Hồng là 155 000km2, riêng phần trên lãnh thổ Việt Nam là 70.700km2 chiếm 46,6% tổng diện tích lưu vực. Từ biên giới Việt - Trung, sông Hồng chảy vào Việt Nam theo hướng tây bắc - đông nam từ Lào Cai đến Việt Trì, qua thủ đô Hà Nội rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa chính là cửa Ba Lạt thuộc hai tỉnh Thái Bình và Nam Định. Sông Hồng có độ dốc lòng sông nhỏ, đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì (còn gọi là sông Thao).

Hệ thống sông Hồng có số lượng sông suối lớn với 614 phụ lưu phát triển tới cấp 6. Hai phụ lưu cấp 1 quan trọng nhất là sông Đà và sông Lô. Sông Đà có chiều dài tổng cộng 1010km, phần ở Việt Nam dài 570 km với tổng diện tích lưu vực 52.900km2, trong đó thuộc lãnh thổ nước ta là 26 800km2. Sông Lô có chiều dài 470 km, phần ở Việt Nam là 275km, diện tích lưu vực là 39.000km2, riêng phần ở Việt Nam là 22.600km2. Tất cả các phụ lưu cấp 1 và cấp 2 hợp với dòng chính sông Hồng tạo thành một mạng lưới sông hình nan quạt hội tụ tại Việt Trì.

Chế độ nước của sông Hồng tương đối đơn giản, trong năm có một mùa lũ và một mùa cạn kế tiếp nhau. Mùa lũ dài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm tới 75% tổng lượng nước cả năm, riêng tháng 8 đã chiếm 21%. Mùa cạn dài 7 tháng, từ tháng 11 đến tháng 5, chiếm có 2,1%. Như vậy, tháng 8 có lượng nước gần bằng cả mùa cạn và gâp tới 10 lần lượng nước của tháng kiệt. Mùa lũ của sông Hồng xảy ra đồng thời trên toàn lưu vực, có sự phối hợp lũ rất nguy hiểm giữa dòng chính sông Hồng và các phụ lưu, trong đó lượng nước sông Đà chiếm tỉ lệ 41-61%, sông Lô chiếm 20-34% và sông Thao 15-23%.

HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI - VÀM CỎ

Đây là một hệ thống kép, vì hai sông Đồng Nai và sông Vàm cỏ chỉ gặp nhau ở cửa Soài Rạp còn được nối với nhau bằng các kênh rạch. Đây là hệ thống sông lớn thứ ba ở nước ta sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. Chiều dài dòng chính sông Đồng Nai là 635km. Diện tích toàn lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai -Vàm cỏ là 44 100km2, tập trung chủ yếu ở nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một phần ở Tây Nam Bộ; ngoài ra còn có một số phần nằm trên lãnh thổ Campuchia là khu vực thượng lưu của các sông Vàm cỏ Đông và sông Sài Gòn (rộng khoảng 670km2, chiếm 15% diện tích toàn lưu vực).

Toàn bộ hệ thống sông Đồng Nai - Vàm cỏ tới 265 phụ lưu, phát triển tới cấp 4, trong đó có các sông quan trọng như sông Đa Dung dài 91km với diện tích lưu vực 1250km2, sông Đắc Nung dài 79km với diện tích lưu vực là 1140km2, sông La Ngà dài 272km với diện tích lưu vực 4170km2, sông Bé dài 344km với diện tích lưu vực 7170km2, sông Sài Gòn dài 256km với diện tích lưu vực 5560km2 và sông Vàm cỏ dài 218km với diện tích lưu vực 12 800km2. ơ khu vực hạ lưu sồng Đồng Nai có ba chi lưu đổ ra biển gồm hai chi lưu cấp 1 là sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp và một chi lưu cấp hai là sông Đồng Thanh. Tuy vậy chỉ có cửa Lòng Tàu mới thực sự là dạng vịnh cửa sông có độ sâu tới 18m và khá rộng nên trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù ở cách xa biển tới 80km vẫn có điều kiện thuận lợi đế xây dựng cảng Sài Gòn thành một cảng lớn nhất nước ta hiện nay.

Chế độ nước của hệ thống sông Đồng Nai - Vàm cỏ cũng đơn giản, có một mùa lũ và một mùa cạn. Tại Trị An mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11) với lượng nước chiếm tới 82,8% tống lượng nước cả năm. Tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 8 chiếm 21% lượng nước cả năm. Mùa cạn kéo dài tới 7 tháng (từ tháng 12 đến tháng 6) nhưng lượng nước chỉ bằng 17,2% tổng lượng nước cả năm và tháng kiệt nhất là tháng 3 chỉ chiêm 0,8% tổng lượng nước. Lũ trên hệ thống sông Đồng Nai - Vàm cỏ không tập trung đột ngột do dạng lông chim của mạng lưới sông, do độ dốc lưu vực không lớn với lớp vỏ phong hoá dày và do độ che phủ rừng còn cao. Chỉ có ở khu vực hạ lưu, do cửa sông có dạng vịnh cửa sông nên thuỷ triều đã có tác động mạnh, nhất là trên các sông Vàm cỏ và sông Sài Gòn. Lên quá thành phố Biên Hoà 30km vẫn còn thấy tác động của thuỷ triều.

 
dia li 8 bai 34 bai 34 dia li 8 cac he thong song lon o nuoc ta