Giới thiệu về một vật dụng, một phong tục, một danh lam thắng cảnh, một thể loại văn học...

Thứ hai , 02/01/2017, 14:51 GMT+7
     

Đề bài: Giới thiệu về một vật dụng, một phong tục, một danh lam thắng cảnh, một thể loại văn học...

BÀI LÀM THAM KHẢO:

Thuở còn thơ, ta hay được nghe bà đọc những câu ca dao ngợi ca tình nghĩa, lớn lên ta lại được cô dạy Truyện Kiều, được học thơ Tố Hữu, thơ của Nguyễn Du... Những vần thơ ấy cứ thế theo năm tháng đi vào tâm hồn mỗi chúng ta nhưng tôi chắc sẽ rất ít bạn băn khoăn tự hỏi tại sao những vần thơ kia lại dễ đi vào lòng người đến vậy.

Thực ra câu trả lời đơn giản vô cùng. Những tác giả hay tác phẩm ta vừa nói đến ở trên đều rất giỏi về thể thơ lục bát - một thế thơ quen thuộc của dân tộc chúng ta.

 

phong nha ke bang

 

1. Đặc điểm của thể thơ lục bát:

Thơ lục bát là một thế thư có từ rất lâu đời và được coi là vốn quý của văn hóa nước ta. Thơ lục bát là loại thơ có kết cấu vô cùng đơn giản gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng. Chính đặc điềm linh hoạt này đã sinh ra những bài thơ có khi vô cùng hấp dẫn nhưng... chỉ có hai dòng:

Hỡi cô tát nước bển dàng

Sao cô múc ánh trăng vàng dồ di.

Sự linh hoạt trong kết cấu cũng là một điểm mạnh giúp nhà thơ có thể phát triển tác phẩm của mình về số lượng mà không hề có một sự hạn chế nào. Ở nước ta, Truyện Kiều là một minh chứng tiêu biểu cho kiểu một “bài thơ lục bát dài” (dài tới 3254 câu lục bát).

Thơ lục bát thường chọn những vần bằng chủ đạo. Người viết rất ít dùng vần trắc. Ta hãy đọc hai câu thơ:

Ta đi ta nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Từ “nhà” trong câu lục mang vần bằng. Trong thơ lục bát, tiếng cuối của câu lục gieo vần với tiếng thứ sáu của câu bát và gọi là cước vận (vần chân). Tiếng cuối của câu bát lại gieo vần trở lại với tiếng cuối của câu lục tạo thành một vòng quay chặt chẽ về vần:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau dớn lòng.

Thơ lục bát sở dĩ mềm mại, uyển chuyến, dễ nhớ và dễ thuộc không chỉ bởi nó thường chọn vần bằng mà còn ở chỗ nó thường có nhịp ngắt chần (2 hoặc 4).

Mình về/ mình có  nhớ ta

Ta về/ ta nhớ/ những hoa cùng người

Thơ lục bát ít phá cách trong vần và nhịp nhưng cũng có trường hợp nhịp ngắt trong thơ lục bát là “nhịp lẻ”.

Người lên ngựa/ kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.

2. Thơ lục bát biến thể:

Lục bát trong quá trình phát triển sinh ra nhiều biến thể khác nhau. Nghĩa là câu thơ, vần nhịp... không còn tuân theo quy luật như đã được nêu ra trong mục 1.

Lục bát có thế biến đổi về số lượng từ ngữ:

 Yêu nhau tam tứ núi cũng leo

Thất bát sông cũng lội, cửu thập lục đeo cũng qua.

Thất bát sông cũng lội, cửu, thập lục đèo cũng qua vừa biến từ ngữ, vừa gieo vần trắc:

    Trèo lèn cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay.

Sự biến đổi trong thế thơ lục bát thường nhằm vào những mục đích khác nhau nhưng chủ yếu nhằm thể hiện những cung bậc tình cảm phức tạp, sinh động hay trắc trở...

Thơ lục bát góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển ngôn ngữ và văn học nước ta. Nó gần gũi và thân thuộc. Nó năng động bởi thơ lục bát dễ làm, dễ thích ứng với các loại đề tài lớn nhỏ khác nhau.