Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ

Chủ nhật , 31/07/2016, 10:31 GMT+7
     

BÀI 2: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BIỂU HIỆN CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐỊA LÍ TRÊN BẢN ĐỒ

(Bài 2 - Ban nâng cao)

 

I. HƯỚNG ĐẢN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Giải bài tập 1 trang 9 SGK địa lý 10: Các đổi tượng địa lí trên hình 2.2 được biểu hiện bằng các phương pháp nào? Các phương pháp đó thể hiện được những nội dung nào của đối tượng địa lí?

Trả lời

- Các nhà máy điện và các trạm điện được biểu hiện bằng phương pháp kí hiệu.

- Phương pháp này thể hiện được vị trí và tên đối tượng, qui mô và chất lượng đổi tượng:

+ Thể hiện vị trí và tên các nhà máy diện, vị trí các trạm điện.

+ Thể hiện qui mô: các ngôi sao có kích thước khác nhau thể hiện công suất khác nhau của các nhà máy điện. Vòng tròn có kích thước khác nhau thể hiện hiệu điện thế khác nhau của các trạm điện.

+ Thể hiện chất lượng đối tượng: Ngôi sao có màu sắc khác nhau thể hiện các nhà máy điện khác nhau, đã hoạt động hoặc đang xây dựng... 

Giải bài tập 2 trang 9 SGK địa lý 10: Hình 2.3 thể hiện những nội dung nào bằng phương pháp đường chuyển động?

Trả lời

- Trên hình 2.3 phương pháp đường chuyển động thể hiện:

+ Gió: hướng gió và tính chất gió.

+ Bão: hướng di chuyển cùa bão và tần suất bão đổ bộ vào các vùng nước ta trong năm.

 

III. THÔNG TIN BỔ SUNG

1. Phân biệt các phương pháp: kí hiệu, chấm điểm, bản đồ - bicu đồ, khoanh vùng (vùng phân bố).

- Phương pháp kí hiệu

Phương pháp kí hiệu là phương pháp biểu hiện bàn đồ đặc biệt được dùng đề thể hiện các đối tượng địa lí phân bố theo từng điểựi cụ thể, đối tượng này không phàn ánh được trong ti lệ bản đồ hoặc chiếm diện tích nhò hơn diện tích mà kí hiệu chiếm (điểm dân cư, mỏ khoáng sản, các trung tâm công nghiệp...). Các kí hiệu thể hiện từng dối tượng được đặt dứng vào vị trí cùa đổi tượng dó. Ngoài việc chỉ rõ vị trí phân bố và thể loại cùa đổi tượng, thường các kí hiệu còn có khả năng thể hiện những đặc trưng về sổ lượng, chất lượng, cấu trúc, động lực của đối tượng.

- Phương pháp chấm điểm

Phương pháp chấm điểm dùng để biểu hiện các hiện tượng phân bổ tản mạn, phân tán trên lãnh thổ bằng những điểm chấm. Ví dụ: phân bố dân cư, nhất là dân cư nông thôn; phân bố cây trồng, vật nuôi... Thực chất cùa phương pháp này là các điểm châm ứng với một sổ lượng nhất định các đối tượng và được bổ trí ờ chỗ tương ứng cùa dổi tượng dó trên bản đồ. Kết quả là sẽ đưa lên trên bàn đồ một số lượng điểm cỏ độ lớn bằng nhau. Tập hợp các điểm đó (độ dày đặc) cho ta khái niệm rõ rệt về sự phân bố cùa đổi tượng, còn sổ lượng điểm cho phép ta xác định số lượng cùa đối tượng.

- Phương pháp hàn đồ - biểu đồ

Phương pháp này thể hiện sự phân bổ của một đối tượng nào đó bằng các biểu đồ dược bố trí trên bàn dồ trong các dơn vị lành thổ (thường có tính chất hành chính) và biểu thị một giá trị tổng cộng cùa một hiện tượng địa lí trong phạm vi lành thổ tương ứng. Ví dụ: giá trị sàn lượng công nghiệp theo từng tỉnh, diện tích rừng các tinh... Như vậy, phương pháp này không chỉ rõ sự phcân bố cụ thề cùa đối tượng trong dơn vị lãnh thổ mà biểu đồ đặt vào, để nó thể hiện giá trị tông cộng của đối tượng trong lãnh thổ đó. Phương pháp này thể hiện dược đặc tính sổ lượng (bằng kích thước cùa biểu đồ), chất lượng (bàng màu sắc hoặc hình dáng biểu đồ), cấu trúc (bằng việc chia biểu đồ thành các phần nhỏ) và động lực cùa hiện tượng (bằng cách dựng các biểu đồ cỏ độ lớn khác nh£u).

- Phương pháp khoanh vùng

Phương pháp này còn được gọi là phương pháp vùng phân bố. Phương pháp khoanh vùng dùng để thể hiện không gian phân bô của một đôi tượng, hiện tượng nào đó, ví dụ: vùng dân tộc khác nhau, vùng phân bố cây thuốc nam, vùng phân bô trâu, bò... Các vùng thuộc các hiện tượng khác nhau có thể không kê nhau, cỏ thê xen kẽ nhau, thậm chí có thể che cho nhau do phụ thuộc vào vị trí tưong quan thực tế cùa các hiện tượng đó. Người ta có thể dùng màu sắc, nét chải, kí hiệu... để thể hiện sự phân bố của đối tượng (chú ý kí hiệu ở phưcmg pháp vùng phân bố không gắn với một điểm cụ thể trên bản đồ tương ứng với ngoài thực tế như phương pháp kí hiệu, mà kí hiệu ở đây tượng trưng cho sự có mặt của đối tượng trên toàn vùng).

(Nguồn: Bản đồ học - K.A. Xalisep, NXB ĐHQG Hà Nội, 2005 và Bàn đồ học - Lê Huỳnh, NXB Giáo dục, 2000)

2. Khả năng phản ánh của kí hiệu bản đồ.

Kí hiệu bản đồ gồm có: kí hiệu điểm (biểu hiện các đối tượng phân bố theo điểm; loại kí hiệu này thường có dạng hình học, dạng chữ hoặc dạng tượng hình), kí hiệu tuyển (thể hiện các đổi tượng dạng tuyến như: địa giới, giao thông, sông ngòi, đường dây tải điện...) và kí hiệu diện tích (thể hiện các đối tượng phân bố theo diện như: đất trồng, rừng, đồng cỏ chăn nuôi...)'.

Trong đó các dạng kí hiệu được sừ dụng rất đa dạng với nhiều đặc tính khác nhau nhằm phàn ánh những đặc tính chất lượng và số lượng cùa hiện tượng. Các đặc tính đó là: dạng kí hiệu, kích thước kí hiệu, cấu trúc kí hiệu, độ sáng, màu sắc kí hiệu...

Thông qua một kí hiệu, ta nhận biết được vị trí của hiện tượng, loại hiện tượng, qui mô cùa nó: kích thước cùa kí hiệu cho ta biết đặc tính sổ lượng cùa hiện tượng. Có thê biết được cấp phân vị cùa hiện tượng qua cấu trúc bên trong cùa kí hiệu, theo độ sáng hay màu sắc. Có thể vẽ thêm một nét phụ theo dạng chung (một nét, nét đứt quãng, hai nét kê nhau hay thay đổi độ đậm cùa nét vẽ) ta có thể biểu hiện cả tính thời gian của hiện tượng (xảy ra trên 100 năm, 50 năm trở lại hoặc đang tồn tại, đang hủy diệt hoặc đã mất hẳn...).

dia ly 10 bai 2 giai bai tap dia ly 10 bai 2 dia ly 10 bai 2 nang cao