Soạn bài cách làm bài văn lập luận chứng minh

Thứ hai , 15/08/2016, 10:45 GMT+7
     

SOẠN BÀI CÁCH LÀM BÀI VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH

I. CÁC BƯỚC LÀM BÀI VẢN LẬP LUẬN CHỨNG MINH

Cho đề văn: Nhân dân ta thường nói: “ Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó.

- Yêu cầu:

HS lần lượt tìm hiếu đề bài trên theo bốn bước :

+ Tìm hiếu đề và tìm ý 

+ Lập dàn bài 

+ Viết bài

+ Đọc lại và sửa chừa

Đế nắm được tốt các bước trên, cần xem ki ở phần I và phần ghi nhớ trong SGK để có được phương pháp làm bài tốt nhất.

Tham khảo bài làm tại đây:

Trong cuộc sống có nhiều người vừa mới gặp khó khăn đã từ bỏ, nản chí,mà cuộc đời thì khó khăn thường nhiều hơn thuận lợi. Song bên cạnh đó còn có những người có ý chí, quyết tâm để đạt mục đích chính đáng của mình. Chính họ đã nhận ra rằng: “Có chí thì nên”. 

“Có chí thì nên”: một bài học giáo dục rất hay từ thời xưa, đặc biệt là đối với những người muốn làm giàu. Đôi khi chính chúng ta phải nhìn nhận rằng số người thiếu sự quyết tâm, ý chí phấn đấu ngày càng nhiều trong xã hội. Dường như chính bản thân họ, đúng hơn là sự tự giác, tự thân vận động đã bị mất đi trong cuộc sống tiện nghi đầy đủ. Vì lẽ đó mà họ sống một cách an nhàn, thiếu sự nỗ lực, ý chí cầu tiến. Và sẽ tai hại hơn khi chính họ chưa được rèn luyện, được dạy cách thích ứng với mọi tình huống bất ngờ xảy đến. Mặt khác còn có những người lại bi quan, không có sự kiên trì, quyết tâm, thấy việc nặng nhọc trước mắt là đùn đẩy, có suy nghĩ là sẽ không làm được, từ bỏ tất cả mọi thứ. Những con người ấy chỉ nhìn sự việc qua một khía cạnh, một khía cạnh bó hẹp trong cái khuôn khổ mà họ từ tạo ra. Một cái vỏ bọc của sự bi quan. Họ chỉ thấy cái bất lợi trước mắt nhưng lại quên đi lợi ích lâu dài. Bên cạnh đó lại có những người mới vừa gặp thử thách đầu tiên là lại tự bỏ cuộc. Chuyện này đã quá quen thuộc. Việc từ bỏ nhanh chóng ấy là do người đó thiếu sự tự tin, cầu tiến, họ sợ thất bại, họ không dám nhìn nhận sự thật dù có thể là phũ phàng. Và cũng đôi khi có nhiều người đã nỗ lực hết sức mình để vượt qua thử thách nhưng lại không đạt được kết quả mong muốn. Điều đó lại càng dẫn đến việc người ấy sẽ bị áp lực đè nặng, để rồi nản chí, dừng cuộc đua nửa chừng trong khi bản thân họ chỉ mới đi một phần ba chặng đường. Thậm chí có người leo cây gần đến ngày hái quả vẫn bỏ cuộc.Thật ra chẳng có gì mới lạ cả. Con người từ cổ chí kim vẫn chạy đường trường trên cái lối mòn, ngặt nghèo này. Bù lại-và cũng chính từ đó mà ra?- xã hội loài người vẫn luôn trọng vọng những ai đạt được mục đích của mình, và mục đích càng cao lại càng thêm vinh dự. Cái chính yếu và được đề cao vẫn là cái quyết tâm, chừng nào còn bền gan trên đường; cho dù đã thất thểu, hay chỉ còn thoi thóp; thì tệ lắm cũng vẫn được người đời khen tặng là có chí hướng, có nghị lực. Vì vậy, chúng ta cứ cố gắng hết sức của mình, hãy sử dụng chính khả năng, con người thật của ta thì dù có thất bại đi chăng nữa, chúng ta cũng vui lòng. Điều đó đâu đáng để ta buồn, có thất bại mới có thành công, có nghị lực mới đạt được kết quả. Văn hóa con người vẫn chỉ quảng bá và đề cao sự kiên cường. Chúng ta đều được dạy từ lúc nằm nôi là một khi đã quyết định hướng đi và mục tiêu thì nhất định phải vững lòng theo đuổi đến cùng. Phải theo đuổi cho đến khi thắng lợi vẻ vang hay thất bại hào hùng, nhưng chúng ta tuyệt không được dạy cách rút lui kịp thời, cách bỏ cuộc đúng lúc. Sa lầy trong cuộc chiến, bám trụ một cách bền gan, chôn vùi thêm bao sinh mạng cũng mặc kệ. Nhưng để lập trường bị lung lạc hay mất niềm tin là tệ hại, xét lại mục tiêu hay đường hướng đặt ra-cho dù trên cơ sở nào cũng vậy- thì quả phạm vào tối kị. Điều này nghe chừng như chỉ là một sự ràng buộc về văn hóa hay xã hội, song thực sự lại có vẻ được đóng khuôn sẵn trong tâm trí, tư duy con người. Theo đó, chính những con người có khả năng lí luận sâu sắc lại là những người ít sẵn sàng tự chuyển đổi cách nhìn. Trái lại, họ là thành phần bám víu mạnh mẽ nhất vào đường hướng đã từng lựa chọn. Lẽ nào, con người ta lại tâm niệm cuộc sống chỉ là những quãng đường việt dã nối tiếp và đã lên thì không thể dừng hay quay lại. Nói thẳng ra là chính chúng ta cần phải biết lượng sức mình, đừng lấy cái tính bền chí của mình mà lại lạm dụng nó vì mục đích thiếu thiết thực. Nếu nói một vận động viên chỉ cần tính bền bỉ, kiên cường là có thể chinh phục đường đua 100km thì quả là một sai lầm. Họ hiểu rằng chỉ một yếu tố “ý chí” thì không thể giúp họ hoàn thành chặng đường nếu thiếu “sức lực”. Chúng ta cũng như học nhưng thay vào đó là “cơ hội”. Chính chúng ta tạo nên cơ hội và cần phải khôn ngoan trong việc tận dụng nó. Đừng ngồi đó mà há miệng chờ sung, một việc ngu xuẩn, phung phí thời giờ. Và khi biết cách tạo ra cơ hội cho bản thân mình thì ắt hẳn người ấy sẽ có được lợi thế. 

Việc để có được ý chí bền bỉ cần phải dựa vào chính chúng ta. Nó dễ có, nhưng cũng dễ mất nếu như không biết gìn giữ và di dưỡng nó hằng ngày. Đừng cố tạo ra áp lực cho ta, điều đó sẽ gây ra việc phản tác dụng trong việc hình thành tính “kiên trì”. Mối quan hệ giữa “chí” và “cơ hội” là sự liên kết chặt chẽ mà một người muốn thành công sẽ có. 

Xét cho cùng, mọi người trong chúng ta cần tu dưỡng đức tính của mình, đặc biệt là ý chí cầu tiến. Có như vậy, nó mới trở thành một nếp sống đẹp trong mỗi con người.  

II. LUYỆN TẬP

Cho hai đề văn sau:

Đề 1: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt có ngày nên kim.

Bài làm 

Trên đời này chẳng có một kết quả lớn nhỏ nào tự nhiên mà có, tất thảy đều được tạo ra từ những sự cố gắng không ngừng. Sức mạnh của sự kiên trì được nhân dân ta đúc kết trong câu tục ngữ thật hay: Có công mài sắt có ngày nên kim.

Bằng việc nêu ra sự đối lập ghê gớm giữa thanh sắt to lớn, xù xì và cây kim bé nhỏ mà tinh xảo, tác giả dân gian xưa đã nêu bật tác dụng to lớn của sự kiên trì cố gắng không mệt mỏi của con người để đạt tới thành công. Điều đó đã được chứng minh qua rất nhiều tấm gương trong cuộc sống.

Nước Việt Nam ta là một nước nhỏ bé, những ngày đầu kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ tiềm lực kinh tế, quân sự chưa mạnh, nhưng nhờ tinh thần trường kì kháng chiến, không sợ gian khổ hy sinh, sau ba mươi năm ta đã chiến thắng vẻ vang.

Trong lĩnh vực học tập rèn luyện, cũng có nhiều tấm gương kiên trì phấn đấu. Xưa có bậc danh nho Nguyễn Siêu, văn hay chữ tốt đến mức được người đời tôn làm “Thần Siêu”. Nhưng mấy ai biết rằng thuở đi học, chữ ông viết rất xấu, mấy lần ông đỗ chưa cao chỉ vì chữ xấu, hại đến văn hay. Khi làm qian, điều khiến ông đau đớn nhất là chỉ vì chữ xấu mà khi ông phê án khiến kẻ dưới luận sai, làm một người đàn bà vô tội thua kiện. Từ đó, ông quyết chí rèn chữ. Viết chữ nho phải viết bằng bút lông, tay phải vừa khéo vừa vững gân tay. Ông kiên trì tập vạch từng nét sổ, nét ngang, nét mác, nét uốn câu,… Nét nào ông cũng phải tập viết hàng ngàn lần, kì cho sắc nét mới tập vào chữ, từ những chữ đơn giản đến những chữ phức tạp. Tập không kể ngày đêm, tay có lúc cứng đờ, tê buốt. Sau nhiêu tháng năm, chữ ông viết tuyệt đẹp, còn được giữ lại không ít lưu bút ở đền Ngọc Sơn. Ngày nay, học sinh lớp hai nào mà không biết tấm gương của thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí qua bài Tập đọc. Ngay từ khi còn nhỏ, căn bệnh bại liệt đã cướp đi đôi tay của thầy. Nguyễn Ngọc Kí vẫn đến lớp, lặng lẽ ngồi trên chiếc chiếu ở góc lớp, dùng chân kẹp cây bút, tập đưa những nét chữ nguệch ngoạc trên giấy trắng. Nhưng anh không nản chí, cứ tập mãi, tập mãi, gò lưng mà tập, chân đau nhớc, anh vẫn không thôi. Cuối cùng anh không chỉ viết chữ đẹp mà vẽ được rất chính xác các bài toán Hình học phức tạp, các hình vẽ các cơ quan trong cơ thể người của môn Sinh học. Học xong phổ thông, Anh học Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Giờ đây anh đã trở thành thầy giáo. Thầy không chỉ truyền cho học trò tri thức mà cả tinh thần cần cù, nhẫn lại tuyệt vời.

Những công trình khoa học ra đời đâu phải chỉ nhờ tài năng, phần lớn còn phải nhờ lòng nhẫn nại. Giáo sư Tiến sĩ Lương Đình Của từ những hạt thóc giống quý báu đem từ Nhật về, mất hàng chục năm, trải qua hàng ngàn thí nghiệm lai tạo, ông đã đem lại những giống lúa phù hợp với thổ nhưỡng Việt Nam và cho năng xuất cao. Hai vợ chồng nhà bác học Pi-e Quy-ri và Ma-ri Quy-ri đã miệt mài nghiên cứu, kì công lọc đi lọc lại tám tấn quặng để tìm ra một phần mười gam chất phóng xạ ra-đi-um, khai phá một nền khoa học có sức mạnh ghê gớm khi đem phục vụ lợi ích hoà bình nhân loại.

Nhận thức sâu sắc giá trị mạnh mẽ của lòng kiên nhẫn, thơ văn của chúng ta cũng đã viết nên những câu chuyện đầy ý nghĩa. Truyện ngụ ngôn Mài sắt nên kim là một trong số đó. Một cậu bé cứ sờ đến sách là ngại vì chữ viết thì khó mà bài thì dài. Cậu đâm lười học, ham chơi. Ngày ngày lang thang ngoài đường, lúc nào cậu cũng gặp bà lão ngồi bên vệ đường kiên trì mài thanh sắt cứng. Cậu bé rất ngạc nhiên khi bà lão nói một câu đầy tự tin: “Ta mài thanh sắt này để có chiếc kim nhỏ bé”. Cậu hiểu ra rằng chỉ có lòng nhẫn nại mới giúp người ta thành công trong cuộc sống, từ đó cậu chăm chỉ học hành. Ngụ ngôn của nhà thơ nổi tiếng la-phông- ten cũng cho chúng ta một bài học thú vị khi chú rùa chậm chạp, nhưng cực kì chăm chỉ, miệt mài tha cái mai nặng trên lưng đi liên tục không nghỉ, cuối cùng đã thắng chú thỏ lười biếng.

Việc bình thường đã vậy, việc lớn lao như sự nghiệp cách mạng gian nan, cuộc đời buôn ba bốn biển năm châu hoạt động cứu nước của Bác Hồ cũng được Bác viết lên trong bài thơ Đi đường:

Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.

Núi cao lên đến tận cùng,

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

Đó quả là bài học thấm thía về lòng kiên trì sắt đá của người chiến sĩ cách mạng.

Thế mới biết ở trên đời phàm việc lớn, việc nhỏ, muốn thành công không thể thiếu tinh thần cần cù, chịu khó, kiên trì, nhẫn nại. Một nhà bác học cũng đã từng nói: “Thiên tài chỉ do một phần trăm là bẩm sinh còn chín mươi chín phần trăm là sự cần cù”. Càng ngẫm về câu tục ngữ, nhớ lại những tấm gương trên, em càng thấy lòng kiên trì, nhẫn nại của mình thật còn quá mỏng, làm sao mà em có thể học tốt được. Các nhà bác học, các vị lãnh tụ, sự nghiệp của họ cao như quả núi ngất trời nhưng họ vẫn không bao giờ buông lơi sự nỗ lực, miệt mài trong cả cuộc đời đất thôi. Em không thể buông xuôi được.

 

Đề 2: Chứng minh tính chân lí trong bài thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Em sẽ làm theo các bước như thê nào? Hai đề này có gì giống và khác nhau so với đề văn đã làm mẫu ở trên?

Gợi ý:

Với hai đề vãn trên ta phải làm theo bốn bước: Tìm hiếu đề và tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn, đọc và sứa chừa.

Hai đề vân trên so với dồ văn mầu ở phần I có điểm giống và khác nhau như sau:

- Giống nhau: Các vấn đề chứng minh trong ba đề văn trên thực chất đều là một. Đó là con người có ý chí và nghị lực thì sẽ mang lại thành công trong cuộc sông. Cách làm ở ba đề văn trên đều phải tuân theo bốn bước của một bài văn lập luận chứng minh.

- Khác nhau:

+ Đề văn: Nhân dân ta thường nói: “ Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó. Và đề văn Chứng minh tính chân lí trong bài thơ:

Không có việc gì khó 

Chỉ sợ lòng không bền 

Đào núi và lấp biển 

Quyết chí ắt làm nên.

Các ý trong hai đề văn trên đã rõ ràng, người viết không cần giải thích các từ ngữ, hình ảnh mà đi vào giải thích luôn nội dung của vấn đế cần chứng minh.

+ Đề văn: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt có ngày nên kim. Người viết phải giải thích cả nghĩa đen cho đến nghĩa bóng của câu tục ngữ.