Soạn bài cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

Thứ năm , 11/08/2016, 17:05 GMT+7
     

SOẠN BÀI CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH CỦA LÍ BẠCH

(Tĩnh dạ tứ)

Câu hỏi 1. Có người cho rằng bài Tĩnh dạ tứ, hai câu đầu là thuần tuý tả cảnh, hai câu cuối là thuần tuý tả tình. Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao?

Gợi ý:

Bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh đã được tiên thơ Lí Bạch kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa tả tình và tả cảnh. Tình và cảnh đó có mặt xuyên suốt từ đầu đến cuối bài thơ. Đó là nỗi nhớ quê hương tha thiết, trong một đêm không ngủ được tác giả đã thao thức ngắm trăng, càng ngắm lại càng trào dâng nổi nhớ quê cũ. Điều này được thể hiện như sau:

- Hai câu thơ đầu tiên tác giả đã vẽ nên một bức tranh về cảnh đêm trăng sáng. Tuy nhiên đây không phải là hai câu thơ tả cảnh thuần tuý vì có sự xuất hiện của chữ “sàng” (giường) và chữ “nghi” (ngỡ) ánh trăng sáng đã rọi tới đầu giường khiến tác giả ngỡ là sương trên mặt đất. Và vẻ đẹp dường như mơ hồ đó đã làm cho tác giả thao thức trong đêm. Vậy cảnh thiên nhiên ở đây chỉ là đối tượng suy ngẫm của chủ thể trữ tình, đế rồi trên nền cảnh đó ông đã bộc lộ những suy tư, cảm nghĩ của mình về quê hương mà ông đã xa cách bấy lâu.

Và ngược lại hai câu CUỐI tác giả nói về tình người, tình quê hương sâu sắc, ở đây có tới ba chữ trực tiếp tả tình: “tư cố hương” (nhớ quê cũ). Tuy nhiên tác giả không đơn thuần chỉ tả tình thuần tuý mà các từ ngữ còn lại đều là tả cảnh, tả người: “vọng minh nguyệt”, “cử đầu”, “đê đầu”. Qua việc tả cảnh, tả người đó đã giúp tác giả bày tỏ nỗi nhớ quê da diết, sâu nặng trong tâm hồn của nhà thơ.

Câu hỏi 2: Tuy không phải là bài thơ Đường luật song Tĩnh dạ tứ cũng sử dụng phép đôi.

a- So sánh về mặt từ loại của các chữ tương ứng ở hai câu cuối để bước đầu hiếu thế nào là phép đối.

b- Phân tích tác dụng của phép đối ấy trong việc biểu hiện tình cảm quê hương của tác giả.

Gợi ý:

a- Tinh cảm của tác giả đã bật sáng ở hai câu thơ cuối, ngoài ý nghĩ sâu sắc, các câu thơ còn có phép đối khá đặc sắc. Số lượng các chữ bằng nhau, từ loại hai vê tương ứng và cấu trúc ngử pháp giừa các bộ phận tham gia đối cũng giông nhau: cử đầu >< đê đầu (động từ + danh từ); vọng minh nguyệt >< tư cố hương.

Như vậy phép đô'i đã được tác giả sử dụng rất chỉnh.

b- Như chúng ta đả biết, Lí Bạch đã rời xa quê hương từ rất lâu song tâm hồn ông lúc nào cũng hướng về quê cũ, luôn dành cho quê hương những tình cảm đậm đà, thắm thiết nhất. Điều đó được thể hiện rất rõ qua phép đối ở trên. Nhờ có phép đối tác giả đã làm bật ý đối với người đọc: tác giả ngắm trăng sáng lại nhớ về cô' hương, nỗi nhớ đó được diễn tả sâu sắc hơn qua hai từ acứ đầu- đê đầu”, tác giả đả làm rõ hình ảnh nhân vật trừ tình, khiến cho người đọc cảm nhận được dù nhà thơ tả cảnh, tả người nhưng trang thơ vẫn thầm đẫm tình người, tình quê hương sâu nặng.

Câu hỏi 3: Dựa vào bốn động từ nghi (ngỡ là), cử (ngẩng), đê (cúi) và tư (nhớ) đế chỉ ra sự thống nhất, liền mạch của suy tư, cảm xúc trong bài thơ.

Gợi ý:

Trong bài thơ Tĩnh dạ tứ tác giả đã sử dụng bôn động từ: nghi (ngỡ là), cử (ngẩng), đê (cúi) và tư (nhớ) để kết nốì những suy tư cảm xúc thành một khối thống nhất. Được thể hiện như sau:

Trong các câu thơ có sự xuất hiện của bôn động từ như trên song tác giả đã lược bỏ đi thành phần chủ ngữ. Như vậy, ta có thể khẳng định đối tượng trữ tình trong bài thơ chỉ có một. Hơn nữa bôn động từ đó lại có quan hệ chặt chẽ với nhau đã giúp cho tứ thơ phát triển rất thống nhất, suy tư và cảm xúc được nối liền thành mạch ý: khi nhận thấy ánh trăng sáng rọi vào đầu giường, tác giả ngỡ là sương phủ trên mặt đất. Hành động “cử”, “ngẩng” đã nối kết giữa câu hai và câu ba. Hai cử chỉ “đê” (cúi), “tư” (nhớ) dù đối nhau nhưng đã tạo nên mối liên hoàn đầy ý nghĩa (ánh trăng sáng tác giả cúi đầu nhớ về quê cũ). Điều đó được thể hiện rât rõ qua sơ đồ: nghi (ngỡ là) -> cử (ngẩng) -> đê (cúi) -> tư (nhớ).

LUYỆN TẬP

Bài tập:Có người dịch Tĩnh dạ tứ thành hai câu thơ sau:

Đêm thu trăng sáng như sương

Lí Bạch ngắm cảnh nhớ thương quê nhà.

Dựa vào những điều đã phân tích ở trên, em hãy nhận xét về hai câu thơ dịch ấy.

So sánh cách dịch của tác giả: ”Đêm thu trăng sáng như sương, Lí Bạch ngắm cảnh nhớ thương quê nhà” với những điều đã phân tích ở trên ta nhận thấy: bản dịch mới chỉ nêu lên được nội dung trăng sáng -> ngắm cảnh -> nhớ về quê nhà còn hầu như bản dịch đã làm mất đi những đặc sắc về nghệ thuật dùng từ ngữ. Chẳng hạn trong bản dịch so sánh trăng sáng như “sương” nhưng trong bài thơ Lí Bạch viết là “nghi” (ngỡ là); rồi ở bản dịch lại xuất hiện chủ ngừ của hành động (Lí Bạch) còn ở bài thơ chủ ngữ đã ẩn đi. Mặt khác, nguyên bản bài thơ có tới bốn động từ nhưng bản dịch chỉ còn ba.

Như vậy, với bản dịch ngắn gọn như trên vô tình đã làm mất đi những đặc sắc trong cách thế thiện và mất đi tính mơ hồ của tâm trạng.

cam nghi trong dem than tinh li bach soan bai cam nghi trong dem thanh tinh