Soạn bài cảnh khuya và rằm tháng giêng

Thứ sáu , 12/08/2016, 10:12 GMT+7
     

SOẠN BÀI CẢNH KHUYA VÀ RẰM THÁNG GIÊNG

HỒ CHÍ MINH 

Câu hỏi 1: Hai bài Cảnh khuya và Nguyên tiêu được làm theo thể thơ nào? Vận dụng những hiểu biết về thể thơ này qua những bài thơ Đường mà em đã học, hãy chi ra đặc điểm về số tiếng trong mỗi câu thơ, số câu của một bài, cách gieo vần, ngắt nhịp của hai bài thơ nói trên.

Gợi ý:

Cả hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng đều có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần ở các tiếng 1, 2, 4 (xa, hoa, nhà) (viên, thuyên, thuyền); bài thơ có cấu trúc khai, thừa, chuyến, hợp. Hai dòng thơ 1 và 4 ngắt nhịp không theo 4/3 như nhịp thơ Đường luật. Chẳng hạn như:

Câu 1: Tiếng suối trong/ như tiếng hát xa (nhịp 3/ 4).

Câu 4: Chưa ngủ/ vì lo nỗi nước nhà (nhịp 2/5).

Câu hỏi 2: Phân tích hai câu đầu của bài thơ Cảnh khuya.

Gợi ý:

Đến với hai câu đầu của bài thơ Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa 

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Ngay câu thơ đầu tiên tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh rất ấn tượng: miêu tả âm thanh của tiếng suôi như tiếng hát của con người từ xa vọng lại trong đêm. Cách so sánh đó đã làm cho tiếng suôi - âm thanh hoang dã của tự nhiên trở nên gần gũi, ấm áp với cuộc sông của con người. Không những thế, ở câu thơ thứ hai tác giả đã vẽ nên một bức tranh với nhiều tầng lớp, đường nét, hình khôi đa dạng. Điệp từ “lồng” đã mang lại giá trị thẩm mĩ cao cho bài thơ, gợi lên vẻ đẹp quấn quýt giao hoà của thiên nhiên, làm cho bức tranh đêm trăng hiện lên với vẻ đẹp lung linh huyền ảo, chập chờn giữa núi rừng Việt Bắc.

Như vậy qua hai câu thơ dầu, tác giả đã vẽ nên cảnh của trăng rừng, đó là vẻ đẹp của dáng cây cố thụ, của ánh trăng, bóng lá... tất cả đã hoà quyện và tràn ngập ánh trăng với điệu nhạc của suôi rừng.

Câu hỏi 3: Hai câu thơ cuối của bài Cảnh khuya đã biểu hiện những tâm trạng gì của tác giả? Trong hai câu thơ ấy có từ nào được lặp lại và điều đó có tác dụng như thế nào đối với việc thề hiện tâm trạng của nhà thơ?

Gợi ý:

Hai câu thơ cuối: 

“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

 Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

Đã vẽ nên một bức tranh băng tâm trạng của con người, đó là niềm say mê cảnh thiên nhiên và nỗi lo việc nước. Hai nét tâm trạng ấy thống nhất hoà hợp trong con người của Bác. Điều đó được thể hiện rõ nét ở câu thơ thứ ba: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”. Tác giả đã thế hiện sự rung động, niềm say mê trước vẻ đẹp của đêm trăng giữa núi rừng Việt Bắc. Cao hơn nữa, câu thơ thứ tư đã mở ra một bất ngờ về vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn của Bác. Người thao thức chưa ngủ đâu chĩ vì cảnh đẹp đêm trăng mà cơ bản là do người nghĩ cho vận mệnh của dân tộc. Hoặc cũng có thể hiểu: chính vì thao thức tới canh khuya đề lo nghĩ việc nước mà Người đã thưởng thức đựơc những cảnh đẹp tuyệt diệu của núi rừng.

Điệp ngữ “chưa ngủ” đặt ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư là một bản lề mở ra hai phía của tâm trạng trong một con người- Hồ Chí Minh. Tóm lại hai câu cuối của bài thơ Cảnh khuya đã bộc lộ vẻ đẹp và chiều sâu tâm hồn của tác giả - vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc.

Câu hỏi 4: Hãy nhận xét về hình ảnh không gian và cách miêu tả không gian trong bài Rằm tháng giêng. Câu thơ thứ hai có gì đặc biệt về từ ngừ và đã gợi ra vẻ đẹp của không gian đêm rằm tháng giêng như thế nào?

Gợi ý:

Trong bài thơ Rằm tháng giêng, với cách miêu tả không gian ở hai câu thơ đầu tiên giông như trong thơ cổ phương Đông: nhấn mạnh đến mối quan hệ hoà hợp thống nhâ't của các hình ảnh gợi lên sự sâu xa trong cảm xúc của con người, đồng thời vẽ ra một khung cảnh với không gian cao rộng, bát ngát tràn đầy sức xuân của mùa xuân trong đêm rằm tháng giêng. Câu thơ đầu tiên “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên” đã mở ra hình ảnh của một vầng trăng ở độ viên mãn, tròn đầy; vẻ đẹp đó xuất hiện vào tháng giêng (đầu một năm mới) giúp ta hình dung vẻ đẹp thanh tân, tràn đầy sức sông của thiên nhiên. Vẽ ra một không gian cả bầu trời cao rộng bát ngát, sắc xuân với con người trào dâng bất tận. Câu thơ thứ hai vẽ ra một bức tranh tràn ngập sắc xuân: “Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên”. Tác giả muôn nhấn mạnh vẻ đẹp và sức sống đang lan toả khắp đất trời bằng sự xuất hiện liên tiếp của ba từ xuân: đó là mùa xuân, sức xuân, hương xuân.

Câu hỏi 5: Trong bài Nguyên tiêu (phiên âm) gợi cho em nhớ tới tứ thơ, câu thơ và hình ảnh nào trong thơ cổ Trung Quốc có trong SGK Ngữ văn 7 tập 1?

Gợi ý:

Phần phiên âm của bài Nguyên tiêu gợi cho em nhớ đến tứ thơ, câu thơ, hình ảnh thơ trong bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”.

Câu hỏi 6: Cảnh khuya và Rằm tháng giêng được viết trong những năm đầu rất khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai bài thơ đó đã biẻu hiện tâm hồn và phong thái của Bác Hồ như thế nào trong hoàn cảnh ấy?

Gợi ý:

Đến với bài thơ Cảnh khuya, tác giả đã vẽ lên hình ảnh của Bác với một phong thái bình tĩnh lạc quan. Phong cách đó được toát ra từ những rung cảm tinh tế dồi dào trước thiên nhiên và đất nước. Dù trong hoàn cảnh phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ được, nhưng tâm hồn Bác luôn rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng, của tiếng suối chảy nghe như tiếng hát từ xa vọng lại trong đêm khuya. Không những thế, trong bài thơ Nguyên tiêu phong thái ung dung lạc quan của người còn thể hiện việc ngắm trăng rằm giữa trời nước bao la với hình ảnh con thuyền của vị lãnh tụ và các đồng chí sau lúc bàn việc quân trở về - một con thuyền trở đầy trăng giữa nước trời bao la thấm đầm sắc xuân. Mặt khác, tinh thần lạc quan của Bác qua hai bài thơ còn thề hiện ở giọng điệu vừa cố điển vừa hiện đại, vừa khoẻ khoắn vừa trẻ trung.

Tuy nhiên chúng ta phải thấy rằng cả hai bài thơ trên đều được viết trong những năm đầu vô cùng khó khăn của cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp. Bài Cảnh khuya được viết vào năm 1947 - năm đầu tiên của cuộc kháng chiến. Bài Nguyên tiêu viết vào đầu năm 1948 sau chiến thắng Việt Bắc, chúng ta đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc.

Như vậy, đặt trong hoàn cảnh ấy chúng ta càng cảm phục trước sự bình tĩnh, chủ động lạc quan của Bác Hồ.

Câu hỏi 7: Hai bài thơ đều miêu tả cảnh trăng ở chiến khu Việt Bắc. Em hãy nhận xét cảnh trăng ở mồi bài có nét đẹp riêng như thế nào?

Gợi ý:

Cả hai bài thơ Cảnh khuya và Nguyên tiêu đều được Bác Hồ miêu tả cảnh trăng ở chiến khu Việt Bắc. Tuy nhiên cảnh trăng trong mỗi bài đều có những nét đẹp riêng. Nếu bài thơ Cảnh khuya là cảnh trăng của núi rừng Việt Bắc, trăng được lồng vào vòm cây, hoa lá tạo thành một bức tranh mang nhiều đường nét. Với từ “lồng”, trăng đã hiện lên đầy sinh động và ấm áp, gần gũi với cuộc sống của con người. Thì đến bài thơ Nguyên tiêu, tác giả lại tả cảnh trăng rằm tháng giêng trên sông nuớc bao la, ánh trăng xuân soi chiếu cả bầu trời lần mặt nước, cả không gian tràn ngập hương sắc của trăng và đất trời mùa xuân.

LUYỆN TẬP

Bài tập. Tìm đọc và chép lại một số bài thơ, câu thơ của Bác Hồ viết về trăng hoặc cảnh thiên nhiên.

Gợi ý:

Có thể sưư tầm các bài thơ, câu thơ của Bác viết về trăng hoặc cảnh thiên nhiên. Các em hãy tham khảo các câu thơ, bài thơ sau:

- Trăng vào của số đòi thơ

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.

- Trong tù không rượu cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài của sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

- Dòng sông lặng ngắt như tờ

Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo

Bốn bề phong cánh vắng teo

Chi nghe cót két tiếng chèo thuyền nan.

- Gà gáy một lần đêm chứa tan

Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn

Người đi cất bước trên đường thăm

Rát mặt đêm thu trận gió hàn.

canh khuya ram thang gieng