Soạn bài chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Thứ sáu , 19/08/2016, 10:45 GMT+7
     

SOẠN BÀI CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THỂ KỈ MỚI CỦA VŨ KHOAN

A. YÊU CẦU

- HS hiểu được nội dung bài viết của Vũ Khoan. Bài viết đã nêu lên một vấn đề thiết thực, xác đáng và kịp thời nhân dịp chúng ta bước vào thế kỉ mới về phẩm chất của con người Việt Nam.

- Người Việt có nhiều phẩm chất tốt đẹp như có lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần đoàn kết, sự cần cù, sáng tạo trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu V.V..

- Tuy nhiên, người Việt cũng có những mặt hạn chế cần phải sửa đổi. Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, mặt yếu để khắc phục, sửa chữa; không ngừng hoàn thiện mình, không ngừng tiến bộ để đáp ứng với những yêu cầu mới của đất nước.

B. GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I - Phần bài học

Câu hỏi 1. Tác giả viết bài này trong thời điểm nào của lịch sử? Bài viết đã nêu vấn đề gì? Ý nghĩa thời sự và ý nghĩa lâu dài của vấn đồ ấy? Nhừng yêu cầu, nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách đang đặt ra cho đất nước ta, cho thế hệ trẻ hiện nay là gì?

Gợi ý

- Văn bản này được tác giả viết vào đầu năm 2001, khi đất nước cùng toàn thế giới bước vào năm đầu liên của thố kỉ mới - thời điểm chuyển giao giữa hai thế kĩ, hai thiên niên kỉ. Đây là dịp người ta nhìn lại, kiểm điểm lại minh về chặng đường đã qua và chuẩn bị hành trang đi tiếp chặng đường mới. Thời điểm chuyển giao thời gian ở đây đặc biệt có ý nghĩa và đối với dân tộc ta thì thời điểm này lại càng có ý nghĩa quan trọng: công cuộc đổi mới bắt đầu từ cuối thế kỉ trước đã đạt được những thành quả nhất định và chúng ta bước sang thế kỉ mới với mục tiêu phấn đấu rất cao: đưa đất nước ta tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Vấn đề mà tác giả bàn luận ở đây đã được nêu rõ trong nhan đề: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới. Luận điểm cơ bản của bài cũng được nêu lên ngay trong câu đầu: "Lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam để rèn những thói quen tốt khi bước vào nền kinh tế mới". Vấn đề mà bài viết đặt ra không chỉ có ý nghĩa thời sự trong thời điểm chuyển giao thế kĩ mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với cả quá trình đi lên của đất nước. Con người Việt Nam nói chung, lớp trẻ nói riêng cần phải nhận rõ mặt mạnh, mặt yếu của mình, phát huy mặt mạnh và khắc phục mặt yếu, không ngừng hoàn thiện mình để xứng đáng là chủ nhân của đất nước. Đây là điều kiện hết sức cần thiết để phát triển đất nước, đặc biệt đối với dân tộc ta khi chúng ta đã và đang thực sự đi vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá.

Câu hỏi 2. Hãy đọc lại cả bài và lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả.

Gợi ý

- Luận cứ 1: Chuẩn bị hành trang vào thế kí mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bàn thân con người.

+ Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử.

+ Trong thời kì nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mõ thì vai trò của con người lại càng nổi trội.

- Luận cứ 2: Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước.

+ Một thế giới mà khoa học công nghệ phát triển mạnh, sự giao thoa, hội nhập ngày càng sâu rộng giữa các nền kinh tế.

+ Nước ta phải đồng thời giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đồng thời lại phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức.

- Luận cứ 3: Những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam cần được nhận rõ khi bước vào nền kinh tế mới trong thế kỉ mới.

Bước vào thế kỉ mới, mỗi con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những cái yếu, rèn cho mình những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ để đáp ứng nhiệm vụ đưa đất nước đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tóm lại, ta có thể nhận thấy hệ thống lập luận của bài viết chặt chẽ và tính định hướng rất rõ. Bắt đầu từ việc nêu thời điểm chuyển giao thế kỉ và yêu cầu chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới. Tiếp đó, khẳng định chuẩn bị hành trang quan trọng nhất chính là con người. Sự chuẩn bị này phải đặt vào bôi cảnh thế giới và đối chiếu với những mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt của đất nước. Từ đó, nhận rõ những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam trước yêu cầu của thời kì mới.

Câu hỏi 3. Trong bài viết này, tác giả cho rằng: "Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bùn thân con người là quan trụng nhất". Điều đó có đúng không, vì sao?

Gợi ý

Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, quan trọng nhất vẫn là sự chuẩn bị về con người. Điều này đúng bởi lẽ:

+ Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử.

+ Trong thời kì kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, vai trò của con người càng nổi trội.

Câu hỏi 4. Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, điểm yêu nào trong tính cách, thói quen của người Việt Nam ta? Những điểm mạnh, điểm yếu ây có quan hệ như thế nào với nhiệm vụ đưa đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngày nay?

Gợi ý

Khi triển khai phần này tác giả không chia thành hai ý ưu điểm (cái mạnh), nhược điểm (cái yếu) tách bạch mà nêu từng ưu điểm và đi liền với nó là nhược điểm. Trong cái mạnh lại có thể chứa đựng cái yếu, nếu xem xét từ một yêu cầu nào đó. Những điểm mạnh và điểm yếu của người Việt Nam được tác giả nhìn nhận từ yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, chứ không phải chỉ nhìn nhận từ góc độ trong quá trình lịch sử.

Những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách, thói quen của người Việt:

- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành.

- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với tốc độ lao động khẩn trương.

- Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc, nhất là trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, nhưng lại thường đố kị nhau ưong làm ăn và ưong cuộc sống thường ngày. 

- Bản tính thích ứng nhanh, nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen và nếp nghĩ, kì thị kinh doanh, quen với bao cấp, thói sùng ngoại hoặc bài ngoại đến cực đoan, có thói "khôn vặt", ít giữ chữ "tín".

Câu hỏi 5. Em đã học và đọc nhiều tác phẩm văn học và những bài học lịch sử nói về các phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Những nhận xét của tác giả có gì giống và có điểm nào khác với những điều mà em đã đọc được trong các sách vở nói trên? Thái độ của tác giả như thế nào khi nêu những nhận xét này?

Gợi ý

Lâu nay, trên các phương tiện thông tin dại chúng, trong sách báo, khi nói đến tính cách của dân tộc và phẩm chất con người Việt Nam nhiều người thường chỉ thiên về khẳng định nhừng cái hay, cái tốt, cái mạnh. Cách ca ngợi một chiều như vậy không phải không có cơ sở và cũng là cần thiết, nhất là khi chúng ta cần phát huy sức mạnh dân tộc trong cuộc chiến đấu chống xâm lược, giành lại độc lập và thống nhất Tổ quốc.

Nhưng nếu chỉ nói những ưu điểm, những chỗ mạnh mà bỏ qua những hạn chế, nhược điểm sẽ dẫn đến tinh ưạng hiểu không đúng về dân tộc minh, con người mình. Từ đó dần đến sự ngộ nhận, tự đề cao quá mức, dễ có tâm lí tự thoả mãn, không chịu học hỏi người khác. Những thái độ, tâm lí ấy rất có hại, làm cản trở sự phát triển của đất nước, nhất là trong bôi cảnh thế giới hiện nay.

Thái độ của tác giả là tôn trọng sự thực, đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, không thiên lệch về một phía, khẳng định và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt yếu kém, không rơi vào sự đề cao quá mức hay tự ti, kì thị dân tộc.

Câu hỏi 6. Trong văn bản, tác giả sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ. Hãy tìm những thành ngừ, tục ngữ ấy và cho biết ý nghĩa, tác dụng của chúng.

Gợi ý

Bài viết đề cập một vấn đề quan trọng trong đời sống dân tộc trước một thời điểm lịch sử nhiều ý nghĩa, nhưng tác giả không dùng cách nói trang trọng, lên gân, sách vở. Ngôn ngữ của bài viết là ngôn ngữ báo chí với cách nói giản dị, dễ hiểu. Để có được sắc thái ngôn ngữ ấy, tác giả bài viết đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ.

Cách nói theo thành ngữ, tục ngữ vừa sinh động, cụ thể, ngắn gọn vừa giàu ý nghĩa. Có thể kể ra: "nước đến chân mới nhảy", "liệu cơm gắp mắm", "trâu buộc ghét trâu ăn ", "bóc ngắn cắn dài",... 

II - Phần luyện tập

Bài tập 1. (SGK tập 2, trang 31)

Gợi ý

Chỉ cần nêu những dẫn chứng về những điểm mạnh và điểm yếu của những người xung quanh nơi em sinh sống, trong trường học. Điểm mạnh của người được lấy làm dẫn chứng là: tính cần cù, thông minh, có óc sáng tạo,...; điểm yếu có thể là: kém thực hành, thiếu thực tế, không cẩn thận, không có tinh thần hợp tác, đoàn kết giúp đỡ nhau,...

Bài tập 2. (SGK tập 2, trang 31)

Gợi ý

- Em có thể nêu những điểm mạnh, điểm yếu của mình như gợi ý ở bài tập 1.

- Phải đưa ra được hướng khắc phục, sửa chữa những mặt yếu, những khuyết điểm của mình. Chẳng hạn, làm việc, học tập phải chú tâm hơn, cẩn thận, tỉ mỉ hơn, không được ghen tị với bạn khi bạn giỏi hơn mình, ngược lại, không vô tâm, phó mặc cho bạn khi bạn gặp khó khăn,...

chuan bi hanh trang vao the ki moi soan bai chuan bi hanh trang vao the ki moi