Soạn bài liên kết trong văn bản

Thứ tư , 10/08/2016, 08:51 GMT+7
     

SOẠN BÀI LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN

I. LIÊN KẾT VÀ PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN

1. Tính liên kết của văn bản

Câu hỏi:

a. Theo em, nếu bố En- ri- cô chỉ viết mấy câu (SGK, tr. 17) thì En- ri- cô có thể hiểu điều bố muốn nói chưa?

b. Nếu En- ri- cô chưa hiểu ý bô' thì hãy cho biết vì lí do nào?

c. Từ đó, hãy trả lời câu hỏi: Muốn cho đoạn văn có thế hiểu được thì nó phải có tính chất gì?

Gợi ý:

a. Với nội dung thông tin chỉ bằng mấy câu đã trình bày thì En- ri- cô chưa hiểu được điều người bố muốn nói.

b. Trong đoạn văn ta dề dàng nhận thây các câu vẫn còn rời rạc chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Mặt khác ngữ pháp của các câu còn chưa chính xác. Bởi vậy nếu đọc En- ri- cô sẽ chưa thề hiểu được điều bô' muốn nói.

c. Muốn cho đoạn văn có thế hiếu được thì phải có tính chất liên kết, mà muốn liên kết tốt thì câu văn phải đúng ngữ pháp, chính xác, rõ ràng. Đây chính là tính chất quan trọng nhất cua văn bản.

2. Liên kết trong văn bản

Câu hỏi:

a. Đọc lại đoạn văn của câu hỏi a, phần I và cho biết thiếu ý gì mà nó trở nên khó hiểu? Hãy sửa lại đoạn văn đó đế En- ri- cô hiểu được ý bố.

b. Đọc các câu văn (SGK trang 18) và chi ra sự thiếu liên kết của chúng. Hãy sửa lại đế thành một đoạn văn có nghĩa.

c. Từ 2 VD trên hãy cho biết: Một văn bản có tính liên kết trước hết phải có điều kiện gì? Cùng với điều kiện ấy, các câu văn trong văn bản phải sử dụng các phương tiện gì?

Gợi ý:

a. Đoạn văn trở nên khó hiểu vì thiếu các ý thể hiện tâm trạng đau đớn và thái độ tức giận của người bô' khi En- ri-cô trót phạm lỗi với mẹ. Do đó có thế nhận thấy liên kết trong vãn bản trước hết phải liên kết giữa các câu các đoạn văn, làm cho chúng thống nhất, gắn bó chặt chẽ về nội dung.

b. Yêu cầu HS sửa lại đoạn văn bằng cách thêm cụm từ “còn bây giờ” vào đầu câu thay từ “đứa trẻ” bằng từ “con”.

- Sau khi HS đã sửa đoạn văn, cho các em so sánh với đoạn văn khi chưa sửa. Rò ràng, đoạn văn đầu tiên thiếu từ ngữ liên kết “còn bây giờ” và dùng từ “đứa trẻ” không phù hợp với văn cảnh khi miêu tả về “gương mặt thanh thoát” của đứa con.

c. Như vậy, những thiếu sót ở trên đã làm cho đoạn văn ban đầu rời rạc khó hiếu, bị hiểu sai do chưa có sự liên kết về hình thức. Mặt khác, nó giúp ta nhận thấy, trong một đoạn văn, các câu văn không chĩ được liên kết về mặt nội dung mà còn phải liên kết với nhau về mặt hình thức, phải được kết nối bằng các phương tiện ngôn ngữ thích hợp. 

LUYỆN TẬP

Bài tập 1: Sắp xếp những câu văn trong SGK tr. 18 theo một thứ tự hợp lí để tạo thành một đoạn văn có tính liên kết chặt chẽ.

Gợi ý:

Đê tạo thành một đoạn văn có tính liên kết chặt chẽ, cần sắp xếp lại các câu trong đoạn văn như sau: 1 -> 4 -> 2 -> 5 -> 3

Bài tập 2. Các câu văn dưới đây đã có tính liên kết chưa? Vì sao?

Tôi nhớ đến mẹ tôi “lúc người còn sông, tôi lên mười”. Mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài. Sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, tôi nói với mẹ có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ. Còn chiều nay, mẹ hiền từ của tôi cho tôi đi dạo chơi với anh con trai lớn của bác gác cổng. (Lưu ý: về hình thức, các câu văn này có vẻ rất “liên kết”).

Gợi ý:

Các câu văn trong văn bản không cùng nói về một nội dung, mặc dù về hình thức những câu trong đoạn văn có vẻ như là được liên kết chặt chẽ với nhau. Tuy vậy nghiên cứu kĩ sẽ thấy chúng chẳng có quan hệ gì với nhau cả. Nội dung không tuân theo mạch ý thống nhất và chặt chẽ.

Bài tập 3. Điền những từ ngữ thích hợp vào chỗ trông trong đoạn văn để các câu liên kết chặt chẽ với nhau.

Gợi ý :

Có thể tìm các từ ngữ đê điền vào ô trông sao cho hợp lý. Có thể điền các từ ngữ sau đây theo thứ tự vào chỗ trông: bà, bà, cháu, bà, bà, cháu, thế là.

Bài tập 4. "Đêm nay mẹ không ngủ được. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con.”

Có người nhận xét: Sự liên kết giữa hai câu trên hình như không chặt chẽ, vậy mà chúng vần được đặt cạnh nhau trong văn bản Cổng trường mở ra. Em hãy giải thích tại sao?

Gợi ý:

Quan sát hai câu văn ta sẽ thây: câu một nói về người mẹ, câu hai nói về đứa con. Xét về nội dung hai câu văn có vẻ như chẳng liên quan gì với nhau. Nhưng câu vãn thứ ba: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng...” đã liên kết câu một và câu hai thành một khôi thông nhất, làm cho nội dung của cả đoạn gắn bó chặt chẽ với nhau.

Bài tập 5. Chắc em biết câu chuyện cố tích kể về một anh trai cày đã đẵn đủ trăm đốt tre nhưng không nhờ đến phép màu của Bụt thì không sao có được cây tre trăm đốt. Câu chuyện ây có giúp em hiểu được điều gì cụ thế hơn về vai trò của liên kết trong văn bản không?

Gợi ý:

Phép màu của Bụt đã làm cho một trăm đốt tre kết nôi thành một cây tre thần kỳ - cây tre có một trăm đốt. Trong cuộc sông, ta còn có thể nhận thấy tính chất liên kết cần có ở nhiều sự vật, ví dụ: Một ngôi nhà được xây nên từ những viên gạch, để tạo nên bức tường vững chãi các viên gạch đó cần đựơc kết dính bằng vôi vừa, xi măng.

Từ đây có thể dễ dàng liên hệ: Trong văn bản, sự liên kết sẽ giúp cho văn bản trở thành một khối thông nhất, hoàn chỉnh về hình thức và trọn vẹn về nội dung, ý nghĩa. Ta cũng rút ra được một bài học lớn: không có sự liên kết thì văn bản chi là những ngôn từ rời rạc như một trăm đốt tre.

lien ket trong van ban soan bai lien ket trong van ban