Soạn bài những câu hát than thân

Thứ tư , 10/08/2016, 09:53 GMT+7
     

SOẠN BÀI NHỮNG CÂU HÁT THAN THÂN

Câu hỏi 1: Trong ca dao, người nông dân thời xưa thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận của mình. Em hãy sưu tầm một sô bài ca dao đế chứng minh điều đó và giải thích vì sao?

Gợi ý:

HS có thể tham khảo các bài ca dao sau:

+ Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

+ Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con...

Để diễn tả cuộc đời và thân phận của mình, trong ca dao người xưa thường mượn hình ảnh con cò vì cò có nhiều đặc điểm tương đồng với cuộc đời và phẩm chất của người nông dân. Đó là những con người vốn chịu thương chịu khó, nhỏ bé và tội nghiệp phải vất vả kiếm sống quanh năm. Hơn nữa, cò lại thường đứng trên bờ ruộng để rỉa lông, ria cánh nên hình ảnh những con cò đã trở nên thân thuộc và là nguồn cảm hứng vô tận cho nhân dân sáng tác.

Câu hỏi 2: Ở bài 1, cuộc đời lận đận, vất vả của cò được diễn tả như thế nào? Ngoài nội dung than thân, bài ca dao này còn có nội dung nào khác?

Gợi ý:

Cuộc đời lận đận, vất vả cùa cò được diễn tả:

- Về nội dung: Bài ca dao đã vẽ nên hình ảnh con cò khó nhọc, vất vả vì cuộc sống của cò gặp quá nhiều ngang trái, trắc trở; thân cò nhọc nhằn kiếm sông. Cò phải “lận đận”, “lên thác xuống ghềnh” một mình.

- Về nghệ thuật: Bài ca dao đã để lại ấn tượng khá sâu sắc đối với người đọc, dấy lên lòng thương cảm đối với người nông dân trong xã hội cũ. Đế đạt được điều đó, bài ca dao đã có những thành công trên các phương diện nghệ thuật:

+ Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đối lập giữa các hình ảnh: nước non >< một mình, thân cò >< thác ghềnh, lên thác >< xuống ghềnh, bế đầy >< ao cạn. Từ đó, giúp người đọc nhận ra cuộc sống vô cùng bấp bênh, khốn khó của thân cò.

+ Sử dụng từ láy: “lận đận” gợi lên sự vất vả vì cò phải gặp quá nhiều khó khăn, trắc trở.

+ Trong bài còn sử dụng nhiều hình ảnh, từ ngữ miêu tả hình dáng và số phận của con cò: một mình, thân cò, con cò gợi lên sự tội nghiệp, thấp hèn, cô đơn.

+ Hình thức nêu câu hỏi cuối bài giúp cho giọng điệu của câu ca dao thêm da diết, dấy lên trong lòng người đọc nỗi xót thương và thấm thìa nỗi niềm của người dân lao động trong xã hội phong kiến.

Trong xã hội xưa, chế độ phong kiến đã bóc lột, đọa đầy những người lao động vô tội, tạo nên những cảnh đời ngang trái, làm cho lúc thì “bể đầy” lúc thì “ao cạn”. Điều đó đã khiến cho cuộc sống của họ có vô vàn những bất công, lận đận, vất vả. Vì thế, ngoài nội dung than thân, bài ca dao còn có nội dung phản kháng, lên án, tố cáo xã hội phong kiến đương thời

Câu hỏi 3: Em hiếu cụm từ “thương thay” như thế nào? Hãy chỉ ra những ý nghĩa của sự lặp lại cụm từ này trong bài 2?

Gợi ý:

- Trong bài ca dao số 2, cụm từ “thương thay” được hiểu là tiếng than, biểu hiện sự thương cảm xót xa ở mức cao độ.

- Cụm từ này được lặp lại 4 lần, mỗi lần nhắc đến là một lần diễn tả nỗi thương, thương cho thận phận của mình đồng thời thông cảm cho những người cùng cảnh ngộ. Sự lặp lại đó không những có tác dụng nhấn mạnh nỗi thương cảm, xót xa cay đắng của người nông dân, mà còn có ý nghĩa kết nối, phát triển, mở rộng và liên hệ những nỗi thương khác.

Câu hỏi 4: Hãy phân tích những nỗi thương thân của người lao động qua các hình ảnh ẩn dụ trong bài 2?

Gợi ý:

Bài ca dao sô' 2 đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Làm được điều đó, ngoài nội dung sâu sắc bài ca dao còn có sự góp sức của những hình ảnh ẩn dụ. Những hình ảnh này thể hiện cho rất nhiều ảnh ngộ, những điều cay đắng của người lao động trong xã hội cũ. Mỗi hình ảnh thường gợi ra những nét tương đồng, với thân phận và cảnh ngộ cua con người. Vì thế, ý nghĩa ấn dụ của mỗi hình ảnh thế hiện cụ thế và sinh động nỗi khố nhiều bề của người nông dân:

- Hình ảnh con tằm: nói lên thân phận suốt đời bị bòn rút sức lao động

- Hình ảnh con kiến: nói lên nỗi khổ chung của những cuộc đời nhỏ nhoi, vất vả, suốt đời ngược xuôi mà vẫn nghèo khó.

- Hình ảnh con hạc: cuộc đời phiêu bạt, lận đận và những cố gắng vô vọng của người nông dân .

- Hình ảnh con cuốc: là thân phận cua những kẻ “thấp cổ bé họng”, cuộc đời đầy những oan trái mà không biết kêu ai.

Câu hỏi 5: Em hãy sưu tầm một số bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “thân em”. Những bài ca dao ấy thường nói về ai, về điều gì, và thường giống nhau như thế nào về nghệ thuật?

Gợi ý:

Có thế tham khảo các bài ca dao sau:

- Thân em như tấm lụa đào 

- Phất phơ trước gió biết vào tay ai

- Thân em như giếng nước giữa đàng

Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân

- Thân em như hạt mưa sa 

- Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

- Thân em như miếng cau khô

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.

Những bài ca dao trên:

- Đều dùng biện pháp nghệ thuật so sánh, các hình ảnh so sánh hiện lên thật sinh động và gợi cảm. Qua đó, tác giả dân gian muốn nói về từng số phận, cảnh đời đầy ngang trái của những người phụ nữ trong xã hội xưa.

- Được mở đầu băng nhóm từ “thân em” đế nói về những kiếp người, những thân phận nhỏ bé, cơ cực, cay đắng. Từ đó, khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc ở người đọc.

- Thường nói về thân phận tội nghiệp, nồi đau khổ cua nhửng số phận nhỏ bé bị lệ thuộc, không có quyền được quyết định cuộc sống của mình - họ là những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Câu hỏi 6: Bài 3 nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Hình ảnh so sánh ở bài này có gì đặc biệt? Qua đây em thấy cuộc đời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến như thế nào?

Gợi ý:

Trong bài 3, hình ảnh người phụ nữ được so sánh với trái bần - một loại trái cây có tên gọi gợi sự liên tưởng đến những thân phận nghèo nàn cơ cực (tên gọi các loại trái cây ở Nam Bộ thường gợi đến số phận đau khố cay đắng như sầu riêng, mù u, trái bần...). Bên cạnh đó, hình ảnh so sánh còn được bố sung chi tiết “gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu” đã gợi lên thân phận lênh đênh, chìm nối, vô định của người phụ nữ trong xã hội xưa.

Qua đó, ta thấy thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến rất nhỏ bé, đắng cay. Họ giống như trái bần bị xô đẩy quăng quật giữa sông nước mênh mông. Người phụ nữ thời xưa đã chịu quá nhiều đau khổ, họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự quyết định cuộc đời riêng của mình.

LUYỆN TẬP

Bài tập 1. Em hãy nêu những điếm chung về nội dung và nghệ thuật của ba bài ca dao.

Gợi ý:

Cả ba bài ca dao đều có những điểm chung về nội dung và nghệ thuật như sau:

- Về nội dung: Cả ba bài ca dao có ý nghĩa than thân là chính, bên cạnh đó còn có ý nghĩa phản kháng. Cả ba bài đều diễn tả cuộc đời, thân phận của nhân dân ta trong xã hội cũ.

- Về nghệ thuật: Ba bài ca dao đều có những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để diễn tả thận phận của những con người. Đó là những hình ảnh có tính biểu cảm như con cò, con tăm, con kiến, trái bần. Điểm đặc sắc là cả ba bài ca dao đều sử dụng thể thơ lục bát - một thể thơ truyền thông của dân tộc, có âm hưởng nhẹ nhàng mà tha thiết, tạo nên sức sống lâu bền trong lòng người đọc.

nhung cau hat than than soan bai nhung cau hat than than