Soạn bài thuế máu

Thứ tư , 03/08/2016, 22:41 GMT+7
     

SOẠN BÀI THUẾ MÁU CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

(Trích Bản án chế độ thực dân Pháp)

ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

A. YÊU CẦU

- Qua văn bản, thấy được: Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất độc ác, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của thực dân Pháp qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh dể phục vụ lợi ích của mình trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Hình dung ra số phận bi thảm của những người bị bóc lột “thuế máu” theo trình tự miêu tả của tác giả.

- Thấy được ngòi bút lập luận sắc bén, những tư liệu phong phú, xác thực, giọng văn trào phúng sâu cay của tác giả trong văn bản chính luận này.

B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

PHẦN BÀI HỌC

Câu hỏi 1. Nhận xét về cách đặt tên chương, tên các phần trong văn bản.

Gợi ý

- Thực dân Pháp đã đặt ra nhiêu thứ thuế bất công, vô lí để bóc lột người dân thuộc địa. Có lẽ một trong các thứ thuế tàn nhẫn, phũ phàng nhất là sự bóc lột xương máu, mạng sống của những người dân vô tội. Thuế máu là cách gọi của Nguyễn.Ái Quốc. Cái tên này gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa, gợi lên lòng căm phẫn, thái độ mỉa mai của tác giả đối với tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân.

- Các phần Chiến tranh và người bãn xứ, Chế độ lính tình nguyện, Kết quả của sự hi sinh gợi lên quá trình lừa bịp, sự bóc lột đến cùng kiệt thuế máu của bọn thực dân cai trị. Đồng thời, từ các tiêu đề này đã thể hiện tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, sự phê phán triệt để của Nguyễn Ái Quốc.

Câu hỏi 2. So sánh thái độ của các quan cai trị thực dân đối với ngưòi dân thuộc địa ở hai thời điểm : trước khi có chiến tranh và khi chiến tranh xảy ra. Số phận thảm thương của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa được miêu tả như thế nào ?

Gợi ý

- Thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm :

+ Trước chiến tranh, người dân thuộc địa bị xem là giống người hạ đẳng, bị đối xử, đánh đập như súc vật.

+ Khi cuộc chiến tranh xảy ra, lập tức họ được các quan cai trị tâng bốc, vỗ về, phong cho những danh hiệu cao quý. Để chuẩn bị biến những ngưòi dân thuộc địa thành những vật hi sinh, chính quyền thực dân đã dùng thủ đoạn lừa bịp, bỉ ổi này.

- Số phẩn thảm thương của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được miêu tả như sau :

+ Phải đột ngột lìa xa gia đình, quê hương vì mục đích vô nghĩa, đem mạng sống để đánh đổi lấy danh dự hão huyền.

+ Bị biến thành vật hi sinh cho lợi ích, danh dự của nhũng kẻ cầm quyền. Phải chết thảm thương trên chiến trường ác liệt, xa xôi : “phơi thây trên các bãi chiến trường”, “bỏ xác tại những miền hoang vu”, “đưa thân cho người ta tàn sát”...

+ Những người làm công việc chế tạo vũ khí, phục vụ chiến tranh cũng bị bệnh tật và chết đau đớn : “phải hít hơi ngạt”, “nhiễm phải những luồng khí độc”, “khạc ra từng miếng phổi”.

+ Tác giả đưa ra con số người chết rất đáng chú ý : tám vạn người.

Câu hỏi 3. Nêu rõ các thủ đoạn, mánh khóe bắt lính của bọn thực dân. Người dân thuộc địa có thực “tình nguyện” hiến dâng xương máu như lòi lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền không ?

Gợi ý

- Các thủ đoạn, mánh khóe bắt lính của bọn thực dân.

- Tiến hành lùng ráp, vây bắt, cưỡng bức ép đi lính khố đỏ, lính thợ.

- Dọa nạt, xoay xở kiếm tiền những nhà giàu.

- Bắt nhốt như súc vật, sẵn sàng đàn áp dã man nếu có chống đối.

- Lòi lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền : rêu rao là họ tự nguyện đầu quân. Thực tế thì những người bị bắt lính phải trốn tránh hoặc phải “xì tiền ra”. Số khác tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải bệnh nặng để khỏi phải đi lính.

Câu hỏi 4. Kết quả sự hi sinh của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh như thế nào ? Nhận xét về cách đối xử của chính quyền thực dân đối với họ sau khi đã bóc lột hết “thuế máu” của họ.

Gợi ý

- Những người dân thuộc địa từng hi sinh bao xương máu, từng được chính quyền thực dân tâng bốc trước đây, khi chiến tranh kết thúc, mặc nhiên trở lại “giống người hèn hạ”.

- Đối với người dân thuộc địa, sự hi sinh chẳng hề mang lại lợi ích gì cho họ bởi chế độ bản xứ không hề biết đến chính nghĩa và công lí.

- Chính quyền thực dân tráo trở, trắng trợn tưóe đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ tàn nhẫn, vô cớ , đối xử với họ thô bỉ như đối với súc vật.

- Chính quyền thực dân còn “không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầy túi” khi cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện cho thương binh người Pháp và vợ con của tử sĩ người Pháp.

Câu hỏi 5. Nhận xét về trình tự bố cục các phần trong chương. Phân tích nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo, tài tình của tác giả thể hiện qua cách xây dựng hình ảnh, qua giọng điệu.

Gợi ý

- Chương Thuế máu được bố cục ba phần theo trình tự thời gian trước, trong và sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cách sắp xếp này có tác dụng vạch trần toàn diện, triệt để bộ mặt giả nhân giả nghĩa, bản chất tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp đối với dân tộc thuộc địa qua việc bóc lột “thuế máu”.

- Tác giả xây dựng một hệ thống hình ảnh có tính xác thực, sinh động và có sức mạnh tố cáo mạnh mẽ.

Các hình ảnh vừa mang tính châm biếm, đả kích, vừa giàu tính biểu cảm, thể hiện được sự xót xa đối với số phận thảm thương của những ngưòi lính thuộc địa.

Ngôn từ của tác phẩm đậm màu sắc châm biếm, trào phúng : “con yêu”, “bạn hiền”, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế”, “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy”, “vật liệu biết nói”...

Tác giả nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyển thực dân khoác lên cho người lính thuộc địa để đả kích bản chất lừa bịp, trơ trẽn của chúng: “bạn hiền”, “chiến sĩ bảo vộ công lí và tự do”.

Giọng điệu giễu cợt, mỉa mai: “Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu...”, đùng một cái... được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”.

Đặc biệt, tác giả sử dụng rất thành công giọng điệu phản bác mạnh mẽ, dùng liên tiếp các câu hỏi đập lại lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền: “... Phủ Toàn quyền Đông Dương... trịnh trọng tuyên bố rằng: “Các bạn đà tấp nập đầu quân, cầc bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương...” và “Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lị, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt... có lính gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn?”...

Câu hỏi 6. Nhận xét về yếu tố biểu cảm trong đoạn trích được đọc.

Gợi ý

- Trong đoạn trích, yếu tố tự sự và yếu tố biểu cảm được kết hợp chặt chẽ với nhau. Thực ra, bản thân yếu tố tự sự đã bao hàm yếu tố biểu cảm.

- Các sự kiện, con số nêu lên một cách chính xác, những hình ảnh xác thực, sinh động, giàu tính thuyết phục đã tạo nên tính biểu cảm của đoạn trích.

- Các hình ảnh được xây dựng mang tính biểu cảm cao. Các hình ảnh này đã làm rõ thêm số phận đáng thương của người dân thuộc địa và bộ mặt giả nhân giả nghĩa, tàn ác của chính quyền thực dân. Thông qua những hình ảnh đó, người đọc cũng nhận ra lòng căm phẫn kẻ thống trị tàn ác, niềm xót xa thương cảm cho thân phận người dàn nồ lộ của tác giả.

 

PHẦN LUYỆN TẬP

Đọc chính xác, có sắc thái biểu cảm phù hợp với bút pháp trào phúng của tác giả.

Gợi ý

Giọng đọc biểu cảm : có lúc chế giễu, châm biếm, mỉa mai; có lúc xót xa thương cảm... phù hợp với giọng điệu từng phần của đoạn trích.

thue mau nguyen ai quoc soan bai thue mau