Soạn bài tìm hiểu chung về văn nghị luận

Thứ bảy , 13/08/2016, 10:56 GMT+7
     

SOẠN BÀI TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN NGHỊ LUẬN

I. NHU CẦU NGHỊ LUẬN VÀ VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

 1. Nhu cầu nghị luận

Câu hỏi:

a. Trong đời sống, em có thường gặp các vấn đề và câu hỏi kiểu như dưới đây không:

- Vì sao em đi học? (hoặc: Em đi học để làm gì?)

- Vì sao con người cần phải có bạn bè?

- Theo em như thế nào là sông đẹp?

- Trẻ em hút thuốc lá là xấu hay tốt, lợi hay hại?

Hãy nêu thêm câu hỏi về các vấn đề tương tự.

b. Gặp các vấn đề và câu hỏi loại đó, em có thế trả lời bằng các kiểu văn bản đã học như kế chuyện, miêu tả, biểu cảm hay không? Hãy giải thích vì sao.

c. Để trả lời các câu hỏi như thế, hằng ngày trên báo chí, qua đài phát thanh, truyền hình, em thường gặp những kiểu văn bản nào? Hãy kể tên một vài kiểu văn bản mà em biết.

Gợi ý:

a. Những câu hỏi: “Vì sao em đi học?”, “Vì sao con người cần phải có bạn bè?”, “Theo em như thế nào là sống đẹp?”, “Trẻ em hút thuốc lá là tốt hay xấu, lợi hay hại?” là những kiểu câu hỏi mà em thường gặp trong đời sông. Ngoài ra, còn một số câu hỏi về các vấn đề tương tự như:

- Vì sao chúng ta phải biết quý trọng thời gian?

- Đọc sách mang lại lợi ích gì?

- Vì sao phải bảo vệ môi trường?....

b. Khi gặp các vấn đề và câu hỏi như trên, ta không thể trả lời bằng cách sử dụng các kiểu văn bản như tự sự (vì tự sự chỉ là phương thức kể lại một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn tới sự việc kia và cuối cùng là kêt thúc), miêu tả (dùng ngôn ngữ để giúp cho người đọc hình dung được cụ thể các sự vật, sự việc), biểu cảm( dừng lại ở việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc) mà chúng ta chỉ có thế trả lời các câu hỏi và các vấn đề nêu trên bằng việc dùng các lí lẽ, dần chứng, bằng các khái niệm cụ thể. Do đó, chỉ có thể dùng văn nghị luận mới có thế đáp ứng được đầy đu các yêu cầu như thế.

c. Để trả lời các câu hỏi như trên, hăng ngày trên báo chí, qua đài phát thanh, truyền hình, em thường gặp những kiểu văn bản nghị luận dưới dạng các ý kiến nêu ra trong cuộc họp, các bài bình luận, phát biểu cảm nghĩ...

2. Thế nào là văn bản nghị luận?

Đọc văn bản Chống nạn thất học và trả lời các câu hỏi sau:

Câu hỏi:

a. Bác Hồ viết bài này nhằm mục đích gì? Để thực hiện mục đích ấy, bài viết nêu ra ý kiến gì? Những ý kiến ấy được diễn đạt thành những luận điếm nào? Tìm các câu văn mang luận điếm.

b. Để ý kiến có sức thuyết phục, bài viết đã nêu lên những lí lẽ nàor Hãy liệt kê các lí lẽ ấy.

c. Tác giả có thế thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả, biểu cảm được không? Vì sao?

Gợi ý:

a. Viết văn bản Chống nạn thất học, Bác Hồ nhằm mục đích chỉ ra tình trạng không được đi học và sự cần thiết phải đi học của nhân dân ta.

- Đế thực hiện các mục đích trên tác giả đã đưa ra các ý kiến nhăm kêu gọi nhân dân đi học, chỉ ra cách học cho mọi người bởi đó vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mọi người dân.

- Những ý kiến ấy được diễn đạt thành những luận điểm:

+ “Việc nâng cao dân trí là công việc cấp tốc trong lúc này”.

+ “Mọi người dân Việt Nam phải có hiểu biết, có kiến thức, trướ: hết phải đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

b. Bài viết Chống nạn thất học đã thuyết phục được đông đảo nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ bởi vì văn bản đã nêu ra được một hệ thống lí lẽ chặt chẽ, sắc bén như sau:

- Tinh trạng lạc hậu, nạn thất học của nhân dân ta trước Cách mạng tháng Tám

- Những điều kiện cần có để người dân Việt Nam tham gia xây dựng đất nước.

- Những việc cụ thế cần làm đế chống nạn thất học.

c. Tác giả không thể thực hiện mục đích của mình bằng văn biểu cảm, miêu tả và tự sự vì: Văn biểu cảm chỉ dùng để bộc tình cảm, cảm xúc; văn tự sự chĩ dùng đế kế lại các biến cố sự việc xảy ra, có diễn biến và kết thúc; văn miêu tả dùng lời văn để giúp người nghe, người đọc hình dung ra được sự vật, sự việc. Do đó, đế thực hiện những mục đích như trên tác giả chỉ có thể dùng vãn bản nghị luận mới có thể đáp ứng được yêu cầu cua cuộc sống. Vì ở đó có lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ mới có sức thuyết phục người đọc.

LUYỆN TẬP

Bài tập 1: Đọc bài văn Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội và trả lời câu hỏi.

Câu hỏi:

a. Đây có phải là bài văn nghị luận không? Vì sao?

b. Tác giả đề xuất ý kiến gì? Những dòng, những câu văn nào thể hiện ý kiến đó? Để thuyết phục người đọc, tác giả nêu lên những lí lẽ và dẫn chứng nào?

c. Bài văn nghị luận này có nhăm giải quyết vấn đề có trong thực tế hay không? Vì sao?

Gợi ý:

a. Đây là một văn bản nghị luận vì:

- Mở bài: Nêu ra vân đề có thói quen tôt và thói quen xâu.

- Thân bài: Nêu lên các biểu hiện của thói quen tôt và thói quen xấu, đồng thời bàn luận về thói quen xấu cần loại bỏ.

- Kết bài: Gửi lời nhắn nhủ với mọi người

Như vậy, với bô" cục như trên, tác giả đã đưa ra vấn đề thói quen tốt và thói quen xấu để xem xét, bàn bạc, đánh giá và cuối cùng đưa ra hướng giải quyết một vấn đề có thực trong đời sông xã hội của chúng ta. Từ đó xác lập cho người đọc, người nghe một ý kiến nhất định.

b. Với bài văn nghị luận như trên, tác giả đã đề xuất các ý kiến:

- Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sông xã hội đé cuộc sống văn minh, tươi đẹp hơn

- Những dòng văn sau thể hiện ý kiến trên:

+ “Tạo được thói quen tốt rất khó, nhưng nhiễm thói xấu thì dễ. Cho nên mỗi người, mỗi gia đình hãy tự xem lại mình để tạo ra nếp sông đẹp, văn minh cho xã hội”.

- Tác giả nêu ra lí lẽ và dẫn chứng sau đế thuyết phục người đọc:

Lí lẽ:

- Trong cuộc sống có thói quen tốt và thói quen xấu

- Có người biết phân biệt được tốt, xấu nhưng đã thành thói quen nên khó bỏ.

- Tạo thói quen tôt thì khó nhưng nhiễm thói xấu thì dễ.

- Vậy mỗi người hãy luôn có ý thức để tạo ra thói quen tô't và loại bò thói quen xấu.

Dẫn chứng:

- Hút thuốc lá, cáu giận, mất trật tự, vứt rác bừa bãi, vứt vỏ chuối, vỏ cốc và chai vỡ... là những thói quen xấu cần loại bỏ.

- Luôn dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa... là những thói quen tốt cần phát huy.

c. Bài văn nghị luận này hướng tới giải quyết một vấn đề có thực trong đời sống xã hội. Đó là hạn chê các thói quen xấu và phát huy các thói quen tốt trong cuộc sống hằng ngày. Để thuyết phục người nghe, tác giả đã nêu đúng thói quen xấu của con người (vứt rác bừa bãi) và khc. dậy trong mỗi người ý thức bảo vệ môi trường đế tạo ra nếp sông đẹp thói quen tốt.

Với những ý kiến đúng đắn đó, bài viết đã có sức thuyết phục sâu sắc tới người đọc, người nghe.

Bài tập 2: Hãy tìm hiểu bố cục của bài văn trên.

Gợi ý:

Đọc bài viết trên ta dễ dàng nhận thấy, bố cục của bài văn gồm bi phần:

- Mở bài: Từ “Có thói quen tốt” đến "... là thói quen tôt”.

- Thân bài: Từ “Hút thuốc lá” đến "... rất nguy hiểm”.

- Kết bài: Phần còn lại.

Bài tập 3: Sưu tầm hai đoạn văn nghị luận và chép vào vở.

Gợi ý:

HS có thể sưu tầm các đoạn văn nghị luận mà em cho là đặc sắc, các em có thể tham khảo các đoạn văn sau:

Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế phị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thê cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam, để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử.

(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt - một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)

Con người của Bác, đời sông của Bác giản dị như thế nào, mọi người chúng ta đều biết: bữa cơm, đồ dùng, nhà ở, lối sống. Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để vãi một hạt cơm, ăn xong, bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất. ơ việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ. Căn nhà sàn của Bác vẻn vẹn chĩ có ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao!

(Phạm Văn Đồng - Chủ tịch Hồ Chí Minh, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại)

Bài tập 4

Đọc bài văn Hai biển hồ và cho biết đó là văn bản tự sự hay nghị luận?

Gợi ý:

Đọc văn bản trên, chúng ta nhận thấy đây là một văn bản nghị luận vì: Trong văn bản dù có tả hồ, tả cuộc sống tự nhiên và con người vùng xung quanh hồ nhưng không phải chủ yếu để tả, kể về hồ hay cuộc sống xung quanh. Thông qua các phương thức trên, văn bản Hai biển hồ nhằm bàn bạc, đánh giá, làm sáng tỏ về hai cách sống: cách sống cá nhân và cách sống chia sẻ, hòa nhập.

tim hieu chung ve van nghi luan