Các phép chiếu bản đồ cơ bản

BÀI 1: GIẢI BÀI TẬP CÁC PHÉP CHIẾU BẢN ĐỒ CƠ BẢN

(Bài 1 – Ban nâng cao)

I. HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1. Kẻ lại bảng và điền những nội dung thích hợp vào các ô trống:

Trả lời

Phép

chiếu

hình

Thể hiện trên bản đồ

Các kinh tuyến

Các vĩ tuyến

Khu vực chính xác

Khu vực kém chính xác

Hình nón đứng

Là những đoạn thẳng đồng quy ở cực.

Là những cung tròn đồng tâm, tâm là cực.

Vĩ tuyến tiếp xúc.

Là các vĩ tuyến không tiếp xúc với hình nón: càng xa vĩ tuyến tiếp xúc độ chính xác càng giảm.

Hình trụ đứng

Là những đoạn thẳng song song.

Là những đoạn thẳng song song và vuông góc với Xích đạo.

Xích đạo.

Xa Xích đạo.

Câu 2. Hãy cho biết từng phép chiếu đồ thường dùng để biên vẽ bản đồ ở khu vực nào?

Trả lời

– Hình nón đứng: thường dùng để biên vẽ các vùng đất thuộc vĩ độ trung bình (khu vực ôn đới) và kéo dài theo vĩ tuyến như: Liên bang Nga, Trung Quốc, Hoa Kì…

– Hình trụ đứng: thường dùng để biên vẽ bản đồ thế giới và các khu vực gần Xích đạo.

Câu 3. Vì sao khi vẽ bản đồ phải dùng phép chiếu hình bản đồ? Vì sao lại phải sử dụng nhiều phép chiếu khác nhau?

Trả lời

– Khi vẽ bản đồ phải dùng phép chiếu bản đồ vì: phép chiếu bản đồ cho phép biểu diễn bề mặt cong của Trái Đất lên mặt phăng, để mỗi điểm trên mặt cong tương ứng với một điểm trên mặt phăng bản đồ, khi đó mới có thể biên vẽ bản đồ được.

– Phải sử dụng nhiều phép chiếu khác nhau vì:

+ Do bề mặt Trái Đất cong nên khi dùng một phép chiếu hình thể hiện lên mặt phẳng, các khu vực khác nhau, trên bản đồ không thể hoàn toàn chính xác như nhau.

+ Mỗi phép chiếu lại có mục đích sử dụng khác nhau: giữ góc, hướng, diện tích…

Vì vậy tuỳ theo lãnh thổ cần biên vẽ, yêu cầu sử dụng khác nhau mà người ta dùng các phép chiếu hình khác nhau.

Câu 4. Mức độ chính xác của từng phép chiếu phương vị như thế nào? Cho ví dụ cụ thể?

Trả lời

– Phép chiếu phương vị đứng: khu vực chính xác là vùng cực (khu vực trung tâm của bản đồ), càng xa trung tâm độ chính xác càng giảm.

Ví dụ: bản đồ Châu Nam Cực biên vẽ bằng phép chiếu phương vị đứng, khu vực trung tâm của Châu Nam Cực là khu vực chính xác, càng xa trung tâm về phía bắc càng kém chính xác. 

– Phép chiếu phương vị ngang: khu vực Xích đạo tương đối chính xác, càng xa Xích đạo mức độ chính xác càng giảm.

Ví dụ: Trên bản đồ bán cầu Đông, các khu vực có đường Xích đạo chạy qua tương đối chính xác, càng về phía hai cực mức độ chính xác càng giảm.

– Phép chiếu phương vị nghiêng: khu vực tương đối chính xác là nơi tiếp xúc, càng xa nơi tiếp xúc càng kém chính xác.

Ví dụ: Bản đồ Bắc Mĩ biên vẽ bằng phép chiếu phương vị nghiêng thì nơi tiếp xúc của mặt chiếu với khu vực Bắc Mĩ là tương đối chính xác, còn xa nơi tiếp xúc về hai bên đại dương càng kém chính xác.

Câu 5. Bản đồ được phân loại thành những nhóm chính nào? Theo mục đích sử dụng người ta chia thành những loại bản đồ nào?

Trả lời

– Bản đồ được phân loại thành những nhóm chính theo:

+ Tỉ lệ bản đồ.

+ Nội dung bản đồ.

+ Mục đích sử dụng bản đồ.

+ Lãnh thổ biên vỗ…

– Theo mục đích sử dụng, người ta chia thành các loại bàn đồ như:

+ Bản đồ tra cứu.

+ Bản đồ giáo khoa: Atlat Địa lí, bàn đồ câm, bản đồ trong SGK, bản đồ treo tường, mô hình giáo khoa.

+ Bản đồ quân sự.

+ Bản đồ hàng hải…

III. THÔNG TIN BỔ SUNG

1. Phép chiếu bản đồ, lưới bản đồ và sai số trên bản đồ.

– Muốn vẽ bản đồ địa lí trước hết phải có lưới địa lí (kinh tuyến, vĩ tuyến) trên bản vẽ, sau đó dựa vào dạng lưới đê chuyên các nội dung cần thiết. Phương pháp chiếu hình kinh tuyến và vĩ tuyến lên mặt phẳng gọi là phép chiếu bản đồ. Nhiệm vụ của phép chiếu bản đồ là tìm ra mối quan hệ giữa mặt chiếu quả Địa Cầu với mặt biểu hiện là mặt phẳng, tức là giữa tọa độ địa lí của quả Địa cầu và tọa độ vuông góc của mặt phẳng. Biểu hiện của lưới kinh tuyến và vĩ tuyến đó trên bản đồ theo một phép chiểu nào đó được gọi là lưới chiếu bản đồ hay lưới bản đồ. Lưới bàn đồ là những đường tọa độ cho phép xác định vị trí của một điểm bất kì) trên bản đồ.

– Trái Đất có dạng hình cầu, không thể bổ dọc (hay bổ ngang) mặt cầu rồi trải thành mặt phẳng mà không có chỗ hở. Nếu bổ dọc theo kinh tuyến thành từng múi một rồi lấy đường Xích đạo làm trục ngang ghép các múi lại với nhau theo trình tự trên mặt phẳng thì từ Xích đạo về hai cực ta thấy độ hở cứ lớn dần. Còn nếu bổ theo đai vĩ tuyến, rồi dọc theo một kinh tuyến nào đó làm trục đứng, ta ghép các đai đỏ lên mặt phăng cùng theo trình tự kề nhau, ta thấy rằng từ kinh tuyến về hai phía độ hở cũng lớn dần dọc theo các vĩ tuyến.

Việc biểu hiện các đối tượng và hiện tượng địa lí, kể cả các kinh, vĩ tuyến trên bản đồ đòi hỏi phải liên tục, không có chỗ hở, không có chỗ chồng lên nhau. Muốn đạt điều đó rõ ràng là phải kéo căng các múi hoặc đai và ghép liền nhau lại. Chính vì vậy ở nhũng chỗ kéo căng ra đều có sai số trong biểu hiện.

(Nguồn: Bản đồ học — Ngô Đạt Tam, NXB Giáo dục, 1986)

Từ khóa: , ,