Soạn bài Quan Âm Thị Kính

Thứ ba , 16/08/2016, 10:05 GMT+7
     

SOẠN BÀI QUAN ÂM THỊ KÍNH

Câu hỏi 1: Đọc kĩ tóm tắt nội dung vở chèo Quan Âm Thị Kính.

Gợi ý:

HS đọc kĩ phần tóm tắt nội dung của vở chèo Quan Âm Thị Kính để nắm bắt được toàn bộ nội dung, nhăm giúp các em đọc hiếu đoạn trích Nỗi oan hại chồng được tốt nhất.

Câu hỏi 2: Đọc kĩ đoạn trích Nỗi oan hại chồng và các chú thích để hiểu văn bản và các từ ngữ khó.

Gợi ý:

Phần này tương tự phần 1.

Câu hỏi 3: Đoạn trích Nỗi oan hại chồng có mấy nhân vật? Những nhân vật nào là nhân vật chính thể hiện xung đột kịch? Những nhân vật đó thuộc các loại vai nào trong vở chèo và đại diện cho ai?

Gợi ý:

- Đoạn trích Nỗi oan hại chồng có 5 nhân vật: Thị Kính, Thiện Sĩ, Sùng ông, Sùng bà, Mãng ông.

- Trong đoạn trích có hai nhân vật chính thế hiện xung đột kịch là Sùng bà và Thị Kính. Nhán vật chính là Thị Kinh, thuộc vai nhân vật nữ, đại diện cho những người dân lao động bị áp bức trong xả hội phong kiến.

Sùng bà thuộc loại nhân vật “mụ ác”, đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến.

Câu hỏi 4: Khung cảnh ở phần đầu đoạn trích là khung cảnh gì? Qua lời nói và cử chỉ của Thị Kính ở đây, nhận xét gì về nhân vật này?

Gợi ý:

- Khung cảnh ở phần đầu đoạn trích là khung cảnh gia đình ấm cúng, tuy không phố biến đối với nhân dân song đó là mơ ước của người dân về một gia đình trong đó vợ chồng hoà thuận, êm ấm.

- Hiện lên trong khung cảnh ấy là hình ảnh của Thị Kính với những cử chi rất àn cần, diu dàng: khi chồng ngú thì dọn trường kỉ, rồi ngồi quạt cho chổng, thấy râu mọc ngược dưới cằm của chồng thì băn khoăn lo láng về điềm dicing lành. Kết hợp với những lời nói sử, Thị Kính hiện lên là một người vợ thương chồng, dành cho chồng những tình cảm chân thành nhất.

Câu hỏi 5: Thảo luận ở lớp: Hcãy liệt kê và nêu nhận xét của em về hành động và ngôn ngừ của Sùng bà đối với Thị Kính.

Gợi ý:

- Hành động của Sùng bà:

+ Giúi dầu của Thị Kính xuống.

+ Bắt Thị Kính ngửa mặt lên.

+ Không cho Thị Kính phân bua

+ Giúi tay đẩy Thị Kính khuy xuống.

Đỏ là nhừng hành động tàn nhẫn, thô bạo.

- Ngôn ngữ của Sùng bà:

+ Giống nhà bà đây giống phượng giông công.

Tuồng bay mèo mả gà đồng.

+ Nhà bà đây cao môn lệch tộc.

Mày là con nhà cua ốc...

+ Trứng rồng lại đẻ ra rồng

Liu diu lại nở ra dòng liu diu...

+ Đồng nát thì về Cầu Nôm,

Con gái nỏ mồm về ở với cha.

Ngôn ngữ của Sùng bà toàn là những lời đay nghiến, mắng nhiếc, xỉ vả. Mụ đật điều, trút cho Thị Kính đủ tội, không cần rõ sự tình và mụ còn tỏ ra khinh bĩ hoàn cảnh gia đình nhà Thị Kính. Lời lẽ của mụ qua qua các làn điệu hát sắp, nói lệch, hát múa càng bộc lộ rõ thái độ tàn nhẫn, phũ phàng, cay nghiệt, thê hiện sự khinh thị và lấn lướt người nghèo.

Câu hỏi 6: Trong đoạn trích, mấy lần Thị Kính kêu oan? Kêu oan với ai? Khi nào lời kêu oan của Thị Kính mới nhận được sự cảm thông? Em có nhận xét gì về sự cảm thông đó?

Gợi ý:

Trong đoạn trích Nỗi oan hại chồng có 5 lần Thị Kính kêu oan. Trong năm lần ấy thì có ba lần hướng về mẹ chồng, một lần hướng về cha đẻ và một lần hướng về chồng.

Bốn lần kêu oan với mẹ chồng và chồng song đều vô ích. Lần kêu oan thứ năm là kêu với cha đẻ của mình (Mãng ông) Thị Kính mới nhận được sự cảm thông. Tuy vậy, sự cảm thông của người cha đôi với Thị Kính hoàn toàn bất lực vì Mãng ông chỉ là một người nghèo khổ và đã già yếu. Kết quả đó là nỗi oan không giải được và Thị Kính bị đuổi ra khỏi nhà chồng.

Câu hỏi 7: Thảo luận ở lớp: Trước khi đuổi Thị Kính ra khỏi nhà, Sùng bà và Sùng ông còn làm điều gì tàn ác? Theo em, xung đột kịch trong đoạn trích này thế hiện cao nhất ở chỗ nào? Vì sao?

Gợi ý:

- Trước khi đuổi Thị Kính ra khỏi nhà, xung đột kịch tập trung cao nhất đó chính là hành động vô cùng tàn ác của Sùng bà và Sùng ông dựng lên một vở kịch lừa Mãng ông sang ăn cữ cháu, thực ra là bắt ông sang nhận con về, làm cho cha con Mãng ông nhục nhã ê chề. Và cao hơn nữa còn thề hiện nhừng hành động vũ phu đối với cha con họ. Khi đó Thị Kính bị đẩy vao chồ cực điểm của nỗi đau. Cảnh cha con ôm nhau khóc là sự oan khuất mà bất lực.

Câu hỏi 8: Qua cử chỉ và ngôn ngữ của nhân vật, hãy phân tích tâm trạng của Thị Kính trước khi rời khỏi nhà Sùng bà. Việc Thị Kính quyết tâm “trá hình nam tử bước đi tu hành” có ý nghĩa gì? Đó có phải là con đường giup nhân vật thoát khỏi đau khố trong xã hội cũ không?

Gợi ý:

- Cử chỉ và ngôn ngữ của Thị Kính trước khi rời khỏi nhà Sùng bà: “Thị Kính quay vào nhìn từ cái kỉ đến sách, thúng khâu, rồi cầm lây chiếc áo đang khâu dở, bóp chặt trong tay”, và nàng hát rằng:

Thương ôi! Bấy lâu nay sắt cầm tịnh hảo Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi...

[...]

Trách lòng ai nỡ phụ lòng 

Đang tay nỡ bẻ phím đồng làm đôi.

Như vậy, với ngôn ngữ và cử chỉ như trên cho thấy tâm trạng của nàng lúc này là vô cùng lưu luyến trước những kỉ vật của tình nghĩa vợ chồng và nỗi lòng đau đớn trước những bằng chứng của lòng thuỷ chung giờ đây lại là dấu vết của sự thất tiết. Trước tình cảnh oan trái như vậy, song tấm lòng của Thị Kính vần đức hạnh, nhân hậu, thuỷ chung khiến cho người đọc vô cùng thương cảm.

- Trước những nồi đau quá lớn của cuộc đời, Thị Kính đã chọn con đường tu hành, giả trai nương nhờ ở chốn cửa Phật. Cách lựa chọn này có mặt tích cực là Thị Kính muốn được sống ở đời để mong có ngày giải thoát cho nỗi oan khuất, đau đớn của mình. Nhưng lại có mặt tiêu cực khi cho răng mình đau khổ là do sô' kiếp, đây là cái nhìn còn thiếu lạc quan của người phụ nừ trong xã hội cũ, họ chưa vượt lên được hoàn cảnh mà đã khuất phục trước hoàn cảnh, họ cam chịu một cách nhẫn nhục. Do vậy, đây không phải là con đường để giúp nhân vật thoát khỏi đau khổ trong xã hội cũ.

LUYỆN TẬP

Bài tập 1: Tóm tắt ngắn gọn đoạn trích “Nỗi oan hại chồng”.

Gợi ý:

Vào một buổi tôi, Thiện Sĩ đọc sách rồi thiu thiu ngủ. Thị Kính ngồi may vá bên cạnh rồi quạt cho chồng. Trong lúc đó, nàng đã phát hiện ra dưới cằm chồng có cái râu mọc ngược. Nàng nghĩ đây là điềm chẳng lành, nên đã cầm dao khâu định xén nó đi. Chưa kịp xén thì Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy và hô hoán lên. Sùng ông và Sùng bà vốn không ưa Thị Kính nên đã đay nghiến, mắng nhiếc và đổ cho Thị Kính tội giết chồng. Mặc cho Thị Kính một mặt kêu oan, van xin nhưng Sùng ông và Sùng bà đã gọi Mãng ông (bố Thị Kính) sang và làm cho hai cha con phải nhục nhã, khổ sở. Quá đau khổ vì uất ức, Thị Kính lạy cha mẹ rồi giả trai, chọn kiếp tu hành, nương nhờ ở cửa Phật.

Bài tập 2: Thảo luận ở lớp: Nêu chủ đề của trích đoạn “Nỗi oan hại chồng”. Em hiểu thế' nào về thành ngữ “Oan Thị Kính”?

Gợi ý:

Chủ đề của đoạn trích nỗi oan hại chồng: đoạn trích thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của Thị Kính và những nỗi oan, bê' tắc của nàng cũng như của không ít người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua đó phản ánh những đối lập giai câ'p thông qua xung đột gia đình, hôn nhân trong xã hội phong kiến.

Thành ngữ “Oan Thị Kính” đã được phổ biến rộng rãi trong đời sống hằng ngày của nhân dân lao động. Mọi người dùng thành ngữ này để nói lên những nỗi oan khuất quá mức, cùng cực không thể nào giải toả được của con người nói chung.

quan am thi kinh soan bai quan am thi kinh