Phân tích tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Đề bài: Phân tích tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

Bài làm

Nguyền Trung Thành là một nhà văn đầy tài năng. Rừng xà nu là tác phẩm hay của Nguyễn Trung Thành.

“Làng ở trong tầm đại bác…” truyện của Nguyền Trung Thành đã mở đầu như vậy. Chỉ trong chưa đầy mười chữ mà dựng lên được cả một tư thế của sự sống trong sự đôi diện cùng cái chết, của cái tồn sinh trong vòng đe doạ của sự hủy diệt bạo tàn, cái mở của truyện thật đả cô đúc gọn gàng mà vần đầy uy nghi, tầm vóc.

Phải thừa nhận rằng trong nền văn xuôi của chúng ta, đang còn hiếm những câu tả cảnh thiên nhiên. Có thể thấy tác giả của nó đã rất kì công trong từng dòng chữ, để làm cho cảnh vật được chạm khắc nổi bật hẳn lên dưới một ngòi bút biết tạo hình khối, biết tạo hương, biết tạo ánh sáng và sức nóng. Hãy thử lượm ra đây một câu vãn như thế: “… Ớ chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Này đây nữa, thứ nắng rừng “rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Và khi khép trang sách lại, trong trí mồi chúng ta hẳn vần chưa thể hết lung linh những vóc dáng xà nu đầy sức lực, tràn trề mùi nhựa thơm nồng, chúng cứ ngời ngợi xanh dưới một ánh nắng hè nóng gắt, trong suốt và quý giá tựa vàng mười.

Làng ở trong tầm đại bác. Nhưng sẽ không có thể đại bác nào xóa nổi sự tồn tại bền bỉ và kiêu hãnh của ’làng. Cũng tương tự thế, có thế có cây, có nhiều cây xà nu bị đại bác chặt đứt làm đôi. Nhưng rừng xà nu, dù có thế, thì vẫn sinh sôi, vẫn sống. Có loại xà nu mà đạn đại bác chỉ có thế đế lại trên thân thế cường tráng những vết thương chóng lành. Cũng có cây gục ngã. Song “cạnh một cây mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Bản năng tự bảo tồn, sự thèm khát vươn tới bầu trời và ánh sáng đã khiến rừng cây ấy chiến thắng tàn phá của đạn bom. Tại một nơi như thế này, sự sống vẫn mạnh hơn cái chết, sự sông vần luôn luôn bất diệt ngay trong sự hủy diệt.

Xin lưu ý đến điều này: Nguyền Trung Thành đã sử dụng nhân hóa như một phép tu từ chủ đạo trên suốt trang văn đặc tả xà nu. Điều đó cho phép ta được nghĩ: đoạn văn mở đầu rất đẹp này không chỉ là một khúc tiền tấu phóng túng, đầy ngẫu hứng và suy tưởng được nhà văn cho dạo lên trước khi bắt đầu câu chuyện về những con người. Rừng xà nu, đó còn là một kiểu ẩn dụ về chính con người, những con người sông dưới tầm đại bác. Cũng như xà nu, thân thể và trái tim họ đầy thương tích. Và cũng có đời người giống như những cây xà nu nào đó, bị cái chết chặt đứt ngang nửa đời xuân. Song cũng như xà nu, con người Xô Man, con người Tây Nguyên, con người Việt Nam trong những ngày đánh giặc vẫn sông, bền bỉ, kiêu hùng, đầy khao khát, trong niềm ham muôn mãnh liệt ánh sáng mặt trời, trong tư thế phóng lên đê tiếp lấy nguồn sông trong ánh nắng. Như xà nu, dân tộc Việt Nam, sức tồn sinh mạnh mẽ của đất nước Việt Nam sẽ không thế’ bị hủy diệt trong lò lửa chiến tranh khốc liệt nhất, tàn ác nhất trên trái đất trong những năm tháng ấy.

Khúc lịch sử Xô Man được cụ Mết ké suốt một đêm dài bên bếp lửa, về mặt nào đó, rất giông với’ cảnh rừng xà nu nơi đầu truyện. Đó là một chuồi dài của những đau thương: Những quần chúng bị giặc giết vì nuôi cán bộ. Anh Xút bị treo cổ trên cây vả đầu làng. Bà Nhan bị chặt đầu cột treo đầu súng. Tấm lưng Tnú – khi đó còn là một cậu bé – ngang dọc vết dao chém, máu chảy ra rồi đặc quện lại, tím như nhựa xà nu. Rồi chính người cán bộ, anh Quyết hi sinh. Rồi Mai gục xuống. Cả đứa con của hạnh phúc, của tình yêu cũng chết dưới đòn đánh tàn bạo của kẻ thù. Còn Tnú, lửa xà nu đốt cụt mười ngón tay anh, lửa xà nu thiêu đốt trong lồng ngực, như cháy cả ruột anh.

Nhưng ta hãy trở về với Tnú và Mai trong thời gian trước ngày nổi dậy. Ngay từ lúc đó, họ có rất nhiều. Có lí tưởng cách mạng là cái mà bao nhiêu nhân vật trước họ chỉ tìm thấy khi đã bước đến chặng cuối trong câu chuyện của đời mình. Có đủ chữ nghĩa đế làm cán bộ; và đây là điều còn chưa hề đươc đặt ra, chưa hề được quan tâm tới.

Tnú và Mai còn được nhà văn hào phóng đưa lại cho khá nhiều vẻ đẹp của con người lí tưởng. Với Mai, đó là sự duyên dáng, linh lợi, giọng nói trong lanh lảnh và con tim thắm thiết, thủỵ chung. Còn với Tnú, đó là sự khỏe mạnh với bộ ngực rộng rãi và hai cánh tay khỏe như lim, là sự bất khuất, can trường đã được thử thách qua tra tấn dã man và mấy năm trời tù ngục. Giữa họ lại đã nảy sinh một mối tình đẹp như trong các truyện truyền kì, và Mai vừa sinh hạ một đứa con trai hứa hẹn sẽ trở nên một Tnú khác.

Tnú cường tráng như một thân xà nu lớn. Chảy trong huyết quản anh là dòng máu anh hùng của xứ sở Tây Nguyên, truyền lại từ Đam Săn, Xinh Nhã. Chứa đầy trong ngực anh là sức mạnh mênh mông và hoang dại của núi rừng. Anh thừa gan góc đến bướng bỉnh, thừa kiêu hãnh đến giàu tự ái. Anh là người không biết đến sợ hãi, không biết đến khuất phục, cho dù sự tàn bạo có hiện hình trong mũi súng hay lười dao chém ngang dọc trên lưng ; có mượn sức mạnh của cây rừng hay lửa xà nu rừng rực. Anh đã gặp “người Đảng” từ tuổi ấu thơ, đê sớm học được một mục đích sống và một vốn hiểu biết đế làm con người chân chính. Sức mạnh của anh lại được hun đúc bởi cả một tình yêu lớn của một người con gái luôn luôn hiền dịu, nhưng cũng rất kiên trung.

Vậy mà với bằng ấy cái có, Tnú vẫn không cứu sông được vợ con khỏi bị kẻ thù sát hại. Vợ anh và đứa con chưa đầy tháng của anh vẫn chết dưới cây gậy sắt. Co dù Mai đã hết sức bảo vệ con bằng sự hi sinh tuyệt vời của người mẹ và tất cả sự dẻo dai, lanh lẹ của người thiếu phụ sinh ra ở núi rừng: “Mai thét lên một tiếng. Chị vội tháo tấm dịu, vừa lật kịp đứa con ra phía bụng lúc cây gậy sắt giáng xuống trên lưng… Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại đánh sau lưng, chị lật thằng bé ra trước ngực”.

Tnú chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí. Và khi chĩ có tay không thì Tnú cũng không cứu được chính đời anh. Ai đã đọc Rừng xà nu dù chỉ một lần chắc hẳn cũng không thể nào quên được hình ảnh mười ngón tay Tnú rừng rực cháy lửa xà nu, như mười ngọn đuốc. Hình ảnh này thuộc vào loại sáng tạo nghệ thuật mà người ta không dễ sinh ra đến hai lần trong một đời vãn.

“Tnú không cứu được vợ được con… nhớ không, Tnú, mày cũng khống cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nố trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng, tau không nhảy ra cứu mày. Tau cụng chỉ có hai bàn tay không”. Những lời nói giông như điệp khúc trong một bản trường ca mà người già làng đã cất lên bên bếp lửa, trong không khí của đêm thiêng, ta nghe như lịch sử đang truyền phán. Với điệp khúc âm vang ấy, và với hình ảnh hai bàn tay cụt đốt kia, tác giả Rừng xà nu như muôn ghi vào thời gian một lời nhắc nhở vĩnh hằng: Rằng sẽ ra sao, nếu kẻ thù cầm súng rồi mà ta còn chưa kịp cầm lấy giáo.

Đoạn truyện còn lại có phần ít chất sông hơn. Mọi việc diễn ra đúng như ta có thể suy ra theo quy luật: không thê chiến đấu với quân thù chỉ bằng tay không và lòng căm thù mù quáng; dân làng đã đi tìm vũ khí, và đã quay về với lưỡi mác và cây rựa được mài băng đá núi Ngọc Linh.

Còn bàn tay, với những ngón tay chỉ còn hai đốt, một khi đã biết cầm lấy súng lấy dao sẽ lập tức trở thành bàn tay quả báo. Bởi thế, Nguyền Trung Thành đã không chịu để cho thằng Dục (không phải cả nhân thằng Dục – I1Ó đã chết trước đó rồi, dưới chân cụ Mết – mà là kẻ thù, “chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục”) chết vì súng vì dao. Thằng Dục phải chết dưới những ngón tay đã bị chúng thiêu cụt đốt. Lại thêm một lần nửa. Nguyền Trung Thành tạo ra một biểu trưng: kẻ thù đã gây tội ác, kẻ thù sẽ phải đền tội bởi chính những dấu tích của tội ác mà chúng đã gây ra.

Đến cuối truyện, hình ảnh cánh rừng xà nu lại trở về, “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”, với “vô sô” những cây con đang mọc lên”, bất chấp đại bác đêm qua lại bắn. Ta nghe thấy gì từ cái rồi sẽ được Nguyên Ngọc gọi là “một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận” ấy, nếu không phải là sức sông vô hạn và không thể gì tàn phá của một dân tộc thương đau, là chiến thắng của tuổi trẻ, là lời hứa hẹn của tương lai? Ta nghĩ đến Dit, một Mai khác, một Mai không chỉ biết thương yêu mà còn biết chiến đâu để bảo vệ những cái thương yêu. Ta nghĩ đến những bé Heng, rất có thể cò đi xa hơn Tnú… Và như thế, câu chuyện nói rất nhiều đến súng, dao, chết chóc đã khép lại trong một điệp khúc xanh.

Và tất cả những điều đó đã được viết ra trong một cảm hứng sử thi hoành tráng. Hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ, cao cả của rừng núi – một núi rừng gợi nghĩ đến Tổ quốc và dân tộc – quý nhất của cả cộng đồng. Và hoành tráng trong âm hưởng, với lời văn đầy âm điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm.

Từ khóa: , ,